Xác định thời điểm trước khi tính
Trong hoạt động này, ta dùng dữ kiện giả định để luyện toán. Mỗi lần gửi hoặc trả tiền đều xảy ra cuối kì, sau khi tiền lãi của kì ấy được tính. Lãi suất không đổi và không có phí khác. Ghi rõ quy ước này giúp ta đếm đúng số kì sinh lãi.
Gửi một khoản bằng nhau cuối mỗi kì
Mỗi cuối tháng gửi $c$ đồng, lãi suất mỗi tháng là $r>0$. Ngay sau lần gửi thứ $n$, khoản đầu đã sinh lãi $n-1$ tháng, còn khoản cuối chưa sinh lãi:
$$A_n=c(1+r)^{n-1}+\cdots+c(1+r)+c=c\frac{(1+r)^n-1}{r}.$$
Nếu $r=0$, tổng chỉ là $nc$. Đây là một tổng cấp số nhân hữu hạn, không phải gửi toàn bộ $nc$ từ đầu.
Kiểm công thức bằng bảng ngắn
Giả sử gửi cuối mỗi tháng 1 triệu đồng, lãi suất 1% mỗi tháng. Sau lần gửi thứ ba:
| Khoản gửi | Số tháng sinh lãi | Giá trị (triệu đồng) |
|---|---:|---:|
| Cuối tháng 1 | 2 | $1{,}01^2=1{,}0201$ |
| Cuối tháng 2 | 1 | $1{,}01$ |
| Cuối tháng 3 | 0 | $1$ |
Tổng là $3{,}0301$ triệu đồng. Công thức tổng cũng cho $[(1{,}01)^3-1]/0{,}01=3{,}0301$.
Đổi khoản gửi
Giữ các giả thiết trên, mỗi lần gửi 2 triệu đồng. Tổng sau lần gửi thứ ba là bao nhiêu?
Khi mỗi khoản gửi gấp đôi, toàn bộ số dư trong mô hình tuyến tính theo khoản gửi cũng gấp đôi.
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Hai khoản gửi trước đã trải qua một hoặc hai kì sinh lãi.
Cần giữ đủ các hệ số lãi rồi mới làm tròn; kết quả là 6,0602 triệu đồng.
Lời giải
Mỗi khoản gửi bằng 2 triệu đồng, gấp đôi ví dụ trước, nên tổng là 6,0602 triệu đồng. Cũng có thể thay $c=2$ vào công thức, với đơn vị là triệu đồng.
Khoản vay giảm qua từng lần trả
Vay $P$, lãi suất mỗi kì $r>0$, trả đều $c$ cuối kì. Dư nợ sau lần trả đầu là $D_1=P(1+r)-c$. Kì sau lại tính lãi rồi trả: $D_2=D_1(1+r)-c$.
Lặp lại được $D_n=P(1+r)^n-c[(1+r)^n-1]/r$. Muốn vừa hết nợ sau $n$ kì, đặt $D_n=0$:
$$c=\frac{Pr(1+r)^n}{(1+r)^n-1}.$$
Nếu lập bảng tính, mỗi dòng lấy dư nợ trước nhân $1+r$ rồi trừ khoản trả; dùng bảng để đối chiếu công thức.
Lập bảng cho hai kì trả nợ đầu tiên
Vay giả định 10 triệu, lãi 1% mỗi kì, trả 5 triệu cuối mỗi kì. Tính dư nợ sau lần trả thứ nhất và thứ hai.
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Lãi được tính trước mỗi lần trả nên vẫn còn dư nợ.
Kì thứ hai còn phát sinh 1% trên 5,1 triệu, nên dư nợ là 0,151 triệu.
Lãi 1% phải tính trên 10 triệu trước lần trả đầu, cho 0,1 triệu chứ không phải 0,05.
Lời giải
$D_1=10\cdot1{,}01-5=5{,}1$ triệu; $D_2=5{,}1\cdot1{,}01-5=0{,}151$ triệu. Trả tổng 10 triệu chưa hết nợ vì còn phần lãi.
Ghi kết quả thực hành
Bảng báo cáo cần có số tiền đầu kì, lãi trong kì, số gửi/trả và số cuối kì. Làm tròn ở bước cuối theo yêu cầu; không tự coi lãi suất năm là lãi suất tháng.
Đang học