Từ vấn đề lịch sử
Lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế đều liên quan đến quyền của quốc gia ven biển, nhưng chế độ pháp lí không giống nhau. Ta cần phân biệt trước khi đọc nhận định về bảo vệ quyền và lợi ích trên biển.
Tìm hiểu kiến thức
Đây là phần kiến thức nền để đọc đúng nội dung bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp trên biển. Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) quy định khuôn khổ pháp lí về các vùng biển. Luật Biển Việt Nam năm 2012, được sửa đổi, bổ sung và hợp nhất năm 2025, quy định các vùng biển và quyền liên quan của Việt Nam.
**Chủ quyền** đối với lãnh thổ, nội thuỷ và lãnh hải khác với **quyền chủ quyền** trong những hoạt động, tài nguyên cụ thể ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. **Quyền tài phán** là thẩm quyền trong các lĩnh vực được quy định, chẳng hạn nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường biển. Không dùng ba thuật ngữ thay thế nhau trong mọi trường hợp.
| Vùng và phạm vi khái quát | Chế độ cần phân biệt |
|---|---|
| Nội thuỷ, trong đường cơ sở | Là bộ phận lãnh thổ; Nhà nước thực hiện chủ quyền như trên đất liền. |
| Lãnh hải,12 hải lí từ đường cơ sở | Nhà nước có chủ quyền với vùng nước, vùng trời, đáy biển và lòng đất; tàu nước ngoài có quyền đi qua không gây hại theo quy định. |
| Tiếp giáp, ngoài lãnh hải | Kiểm soát để ngăn ngừa, xử lí vi phạm hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh theo quy định; không đồng nhất với lãnh hải. |
| Đặc quyền kinh tế, ngoài lãnh hải | Quyền chủ quyền về tài nguyên, hoạt động kinh tế và quyền tài phán trong lĩnh vực luật định; tôn trọng các quyền sử dụng biển hợp pháp của quốc gia khác. |
| Thềm lục địa, ngoài lãnh hải | Là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, xác định theo quy định; quyền chủ quyền về thăm dò, khai thác tài nguyên, không phải toàn bộ cột nước. |
Theo Luật Biển Việt Nam, vùng tiếp giáp rộng 12 hải lí tính từ ranh giới ngoài lãnh hải, nên giới hạn ngoài ở mốc 24 hải lí từ đường cơ sở. Vùng đặc quyền kinh tế tiếp liền, nằm ngoài lãnh hải và hợp với lãnh hải thành vùng rộng 200 hải lí từ đường cơ sở. Theo UNCLOS, giới hạn ngoài vùng đặc quyền kinh tế không vượt quá 200 hải lí từ đường cơ sở; không cộng thêm 200 hải lí từ rìa lãnh hải.
Các khoảng cách là khung pháp lí, không phải cách tự vẽ ranh giới cuối cùng trong mọi trường hợp. Vùng biển chồng lấn cần được phân định phù hợp pháp luật quốc tế. Thềm lục địa có quy định về sự kéo dài tự nhiên và giới hạn pháp lí; không mặc định mọi nơi có cùng một ranh giới 200 hải lí.
Luật phân biệt đảo với các dạng thực thể và điều kiện hưởng vùng biển. Không coi mọi đảo, đá, bãi ngầm đều có đầy đủ vùng biển như nhau. Cũng không từ một khoảng cách tới bờ tự suy ra toàn bộ vấn đề chủ quyền lãnh thổ đối với một đảo.
Tự do hàng hải, hàng không trong vùng đặc quyền kinh tế được thực hiện theo quy định của Công ước, cùng sự tôn trọng quyền, nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, quyền chủ quyền về tài nguyên không đồng nghĩa biến toàn bộ vùng này thành lãnh hải hoặc phủ nhận mọi hoạt động hợp pháp của quốc gia khác.
Phân tích một trường hợp
Một nhận định viết “vùng đặc quyền kinh tế rộng thêm 200 hải lí tính từ ranh giới lãnh hải” là sai điểm tính. Ta sửa thành ranh giới ngoài không quá 200 hải lí từ đường cơ sở theo UNCLOS; vùng này nằm ngoài lãnh hải.
Đọc điều luật và sửa một nhận định
Đọc Điều 11–16 Luật Biển Việt Nam trong bản hợp nhất 59/VBHN-VPQH năm 2025. Ghi điểm tính, giới hạn và loại quyền cạnh từng vùng. Nếu một nhận định ghi “200 hải lí từ ranh giới ngoài lãnh hải”, sửa điểm tính về đường cơ sở và giải thích vì sao không cộng nối các giới hạn.
Đối chiếu Điều 17–18 để phân biệt đáy biển, lòng đất với cột nước; Điều 19–21 để nhận biết không phải mọi dạng thực thể đều có chế độ vùng biển giống nhau. Chỉ cần hiểu những phân biệt hỗ trợ bài học, không lập một bản đồ phân định bằng các con số trong bảng.
Các nguồn đính kèm là văn bản gốc để kiểm thuật ngữ. Khi đọc tư liệu lịch sử về chủ quyền hoặc chủ trương hoà bình, cần dùng đúng loại quyền và đúng phạm vi, thay vì gọi mọi vùng nước ngoài bờ là lãnh hải.
Bài luyện
Mốc 200 hải lí của vùng đặc quyền kinh tế theo UNCLOS được tính từ đâu?
Đúng. Các giới hạn cần gắn đúng đường cơ sở.
Cách tính này cộng nối sai điểm bắt đầu.
Vùng tiếp giáp không phải điểm bắt đầu của mốc 200 hải lí.
Đường cơ sở được xác định theo quy định, không chọn tuỳ ý.
Lời giải
Giới hạn ngoài vùng đặc quyền kinh tế không vượt quá 200 hải lí tính từ đường cơ sở theo UNCLOS. Không lấy ranh giới lãnh hải hoặc vùng tiếp giáp làm điểm cộng thêm 200 hải lí.
Bài luyện
Phân biệt nào đúng về quyền đối với lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế?
Hai vùng có các chế độ pháp lí khác nhau.
Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán theo quy định.
Công ước vẫn quy định các quyền hợp pháp của quốc gia khác.
Đúng. Cần giữ đúng thuật ngữ và phạm vi quyền.
Lời giải
Lãnh hải thuộc chủ quyền quốc gia ven biển theo chế độ được quy định. Vùng đặc quyền kinh tế có chế độ riêng về quyền chủ quyền, quyền tài phán và quyền, nghĩa vụ hợp pháp của các bên liên quan.
Bài luyện
Thềm lục địa được xác định đúng trong nhận định nào?
Thềm lục địa không phải toàn bộ cột nước.
Đúng. Phải phân biệt bộ phận tự nhiên và chế độ pháp lí.
Nội thuỷ nằm trong đường cơ sở, khác thềm lục địa.
Không phận không phải đáy biển, lòng đất.
Lời giải
Thềm lục địa gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển được xác định theo quy định. Quyền đối với thềm lục địa không làm toàn bộ cột nước phía trên có cùng một chế độ pháp lí.
Bài luyện
Nhận xét nào phù hợp khi dùng bảng giới hạn vùng biển?
Vùng chồng lấn cần phân định theo pháp luật quốc tế.
Luật phân biệt loại thực thể và điều kiện hưởng vùng biển.
Đúng. Các con số cần đặt trong khung pháp lí đầy đủ.
Phải tôn trọng các quyền sử dụng biển hợp pháp theo Công ước.
Lời giải
Bảng chỉ khái quát giới hạn và chế độ. Khi áp dụng phải xét đường cơ sở, loại thực thể, quyền liên quan và phân định vùng chồng lấn; không suy ranh giới hoặc chủ quyền lãnh thổ chỉ từ một phép đo.
Ghi nhớ
12, 24, 200 hải lí đều phải gắn với điểm tính và chế độ pháp lí. Phân biệt chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán; không đồng nhất thềm lục địa với cột nước.
Đang học