Cùng bắt đầu
Sơ đồ dưới đây khái quát những chặng đối ngoại trong kháng chiến chống Pháp. Chú ý mục tiêu mỗi chặng và thứ tự của mốc công nhận 1950 với hoạt động trên chiến trường.
Kiến thức cần nhớ
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vừa ra đời phải bảo vệ độc lập và chính quyền trong hoàn cảnh nhiều khó khăn. Đối ngoại hướng tới tranh thủ sự công nhận, ủng hộ quốc tế, tránh cùng lúc đối đầu nhiều lực lượng và tạo thời gian củng cố thực lực.
**1945–1946: bảo vệ chính quyền, nỗ lực giữ hoà bình.** Chính phủ gửi thư, công hàm đề nghị các nước lớn và Liên hợp quốc công nhận nhà nước mới. Với Trung Hoa Dân quốc, Việt Nam kết hợp đấu tranh chính trị, vận động ngoại giao và hoà hoãn để tranh thủ thời gian.
Với Pháp, Việt Nam kí Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, chấp thuận để quân Pháp thay quân Trung Hoa Dân quốc giải giáp Nhật ở miền Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục thương lượng và kí Tạm ước 14-9-1946 nhằm kéo dài thời gian hoà bình, chuẩn bị lực lượng. Sách lược linh hoạt gắn với nguyên tắc bảo vệ độc lập, chủ quyền.
**Trong kháng chiến: thêm bạn, tranh thủ ủng hộ.** Sau khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Việt Nam vẫn thể hiện thiện chí hoà bình, đề nghị thương lượng, kêu gọi nhân dân Pháp chống chiến tranh. Các cơ quan đại diện và thông tin được mở ở một số nước châu Á và trên thế giới để tăng liên hệ, giới thiệu cuộc đấu tranh chính nghĩa.
**Năm 1950: mở rộng quan hệ chính thức.** Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc ngày 18-1, với Liên Xô ngày 30-1 và sau đó với các nước xã hội chủ nghĩa khác. Đây là thắng lợi chính trị, đối ngoại quan trọng, góp phần phá thế cô lập và tạo thêm điều kiện cho kháng chiến.
Các mốc công nhận này diễn ra đầu năm, trước chiến dịch Biên giới thu–đông 1950. Thắng lợi Biên giới khai thông liên lạc quốc tế, giúp phát huy những điều kiện thuận lợi đã được tạo ra. Khi giải thích quan hệ giữa hai mặt đấu tranh, cần giữ đúng thứ tự sự kiện.
**1951–1954: đoàn kết và đấu tranh trên diễn đàn quốc tế.** Năm 1951, Liên minh nhân dân Việt–Miên–Lào được thành lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng chủ quyền. Việt Nam gặp gỡ đại diện Đảng Cộng sản Pháp, các tổ chức quốc tế, thành lập hội hữu nghị và hoạt động bảo vệ hoà bình để mở rộng sự ủng hộ.
Năm 1954, Chính phủ tham gia Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương, kiên trì bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản. Thắng lợi Điện Biên Phủ tạo cơ sở quan trọng cho đàm phán; Hiệp định Giơ-ne-vơ ngày 21-7-1954 ghi nhận các quyền dân tộc cơ bản và đi tới chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương.
| Nguyên tắc và sách lược | Biểu hiện trong hoạt động đối ngoại |
|---|---|
| Giữ độc lập, chủ quyền | Làm cơ sở cho thương lượng, quan hệ và bảo vệ quyền dân tộc |
| Linh hoạt theo tình hình | Hoà hoãn, tranh thủ thời gian, đoàn kết, vận động và đàm phán khi có điều kiện |
| Kết hợp với thực lực trong nước | Xây dựng, chiến đấu tạo thế; đối ngoại phát huy thế, tranh thủ điều kiện thuận lợi |
Đối ngoại có vai trò chủ động, tích cực và gắn với toàn bộ quá trình kháng chiến. Cần phân biệt nội dung thoả thuận với quá trình thực hiện và những nhiệm vụ còn tiếp tục sau 1954.
Cùng xem một ví dụ
Nhận định “năm 1950 quan hệ ngoại giao được mở rộng, sau đó thắng lợi Biên giới khai thông đường liên lạc quốc tế” có đúng thứ tự. Đây là hai điều kiện hỗ trợ nhau, không phải cùng một sự kiện.
Đối chiếu thời gian và ý nghĩa hoạt động
Lập bảng hoạt động, mục đích, kết quả hoặc ý nghĩa theo các chặng 1945–1946, 1950–1951, 1954. Với mỗi chặng, chọn một dẫn chứng để giải thích sự phối hợp giữa đối ngoại và thực lực trong nước.
Đối chiếu hai mốc thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 1-1950 bằng nguồn chính thức bên dưới, rồi đặt lên trục có chiến dịch Biên giới thu–đông. Bảng đúng cần giữ thứ tự và tránh biến một kết quả về sau thành nguyên nhân của sự kiện đã diễn ra trước.
Đọc các hướng quan hệ, tên chủ thể và mốc thời gian.
Bài luyện
Việc kí Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước với Pháp năm 1946 nhằm mục tiêu trực tiếp nào?
Đây là hướng hoạt động nổi bật từ năm 1950, khác mục tiêu trực tiếp của hai văn kiện năm 1946.
Đây là kết quả gắn với Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954.
Liên minh nhân dân Việt–Miên–Lào được thành lập năm 1951.
Đúng. Hoà hoãn giúp nhà nước mới tranh thủ thời gian và nỗ lực giữ hoà bình.
Lời giải
Trong hoàn cảnh chính quyền cách mạng mới ra đời và gặp nhiều khó khăn, hoà hoãn với Pháp là sách lược tranh thủ thời gian củng cố chính quyền, chuẩn bị lực lượng và tìm giải pháp hoà bình. Mục tiêu ấy cần phân biệt với mở rộng quan hệ năm 1950, liên minh năm 1951 và kết quả đàm phán năm 1954.
Bài luyện
Thứ tự nào đúng của ba sự kiện trong năm 1950: thiết lập quan hệ với Trung Quốc, với Liên Xô và chiến dịch Biên giới thu–đông?
Hai mốc ngoại giao bị đảo: Trung Quốc ngày 18-1, Liên Xô ngày 30-1-1950.
Quan hệ với Trung Quốc và Liên Xô đã được thiết lập từ tháng 1, trước chiến dịch thu–đông.
Quan hệ với Liên Xô được thiết lập ngày 30-1, trước chiến dịch Biên giới thu–đông.
Đúng. Hai mốc ngoại giao tháng 1 diễn ra trước chiến dịch Biên giới thu–đông 1950.
Lời giải
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc ngày 18-1-1950, với Liên Xô ngày 30-1-1950. Chiến dịch Biên giới diễn ra vào thu–đông cùng năm. Mở rộng quan hệ tạo điều kiện quốc tế thuận lợi; thắng lợi Biên giới về sau khai thông liên lạc quốc tế, góp phần phát huy các điều kiện ấy.
Bài luyện
Liên minh nhân dân Việt–Miên–Lào năm 1951 thể hiện hoạt động nào?
Quan hệ với Trung Quốc và Liên Xô là hướng đối ngoại khác, được mở từ năm 1950.
Việc quân Pháp thay quân Trung Hoa Dân quốc giải giáp Nhật gắn với Hiệp định Sơ bộ năm 1946.
Đúng. Liên minh gắn với sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào.
Vận động nhân dân Pháp chống chiến tranh là một hướng hoạt động khác.
Lời giải
Liên minh nhân dân Việt–Miên–Lào được thành lập năm 1951 trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tôn trọng chủ quyền của nhau. Đây là sự đoàn kết của nhân dân ba nước Đông Dương; cần phân biệt với quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa, thương lượng với Pháp và vận động nhân dân Pháp.
Bài luyện
Kết quả nào gắn với Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương năm 1954?
Đây là nội dung gắn với Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946.
Đây là bước mở rộng quan hệ ngoại giao từ năm 1950.
Liên minh nhân dân Việt–Miên–Lào được thành lập năm 1951.
Đúng. Giơ-ne-vơ năm 1954 ghi nhận quyền dân tộc cơ bản và chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.
Lời giải
Thắng lợi Điện Biên Phủ tạo cơ sở quan trọng cho đấu tranh tại Giơ-ne-vơ. Hiệp định Giơ-ne-vơ ngày 21-7-1954 ghi nhận các quyền dân tộc cơ bản, chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Đông Dương. Miền Bắc được giải phóng; nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước còn tiếp tục.
Những điều cần nhớ
1946 hòa hoãn; 1950 mở rộng công nhận; 1954 Giơ-ne-vơ. Nguyên tắc độc lập gắn với sách lược linh hoạt và sức mạnh thực tế.
Đang học