Cùng bắt đầu
Ngoại giao giai đoạn 1954–1975 hướng tới bảo vệ quyền dân tộc, thống nhất đất nước và tranh thủ ủng hộ. Nó diễn ra cùng chiến đấu, xây dựng và vận động chính trị.
Kiến thức cần nhớ
Giai đoạn 1954–1975, đối ngoại của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hướng tới bảo vệ quyền dân tộc, thống nhất đất nước, tranh thủ ủng hộ cho xây dựng miền Bắc và cuộc kháng chiến ở miền Nam. Hoạt động được triển khai trên nhiều hướng và phối hợp với mặt trận quân sự, chính trị.
**Đấu tranh đòi thi hành Giơ-ne-vơ.** Việt Nam phối hợp Uỷ ban Giám sát quốc tế về Hiệp định Giơ-ne-vơ, yêu cầu chính quyền Sài Gòn hiệp thương tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Đây là đấu tranh bảo vệ các quyền và yêu cầu đã được ghi nhận trong tiến trình ngoại giao 1954.
**Củng cố quan hệ, tranh thủ quốc tế.** Việt Nam tăng cường quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, khéo léo xử lí quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc, vận động viện trợ và sự ủng hộ cho cả hai miền. Việt Nam thiết lập quan hệ với Lào, xây dựng hữu nghị với Cam-pu-chia, phát triển liên minh chiến đấu với lực lượng yêu nước của hai nước.
Việt Nam ủng hộ phong trào giải phóng ở Á, Phi, Mỹ La-tinh, vận động nhân dân tiến bộ, đưa thông tin về cuộc chiến tới công luận và tranh thủ công nhận lực lượng cách mạng miền Nam. Báo chí, gặp gỡ, hội nghị và phong trào phản chiến tạo thêm điều kiện chính trị, quốc tế cho kháng chiến.
**Vừa đánh, vừa đàm.** Đàm phán Pa-ri bắt đầu năm 1968 và diễn ra qua quá trình đấu tranh kéo dài. Đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và, về sau, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đưa ra các phương án nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình. Chủ thể tham gia phải được đọc theo thời điểm; Chính phủ Cách mạng lâm thời được thành lập tháng 6-1969.
Chiến trường tạo thế, ngoại giao phát huy thế và tác động trở lại việc tranh thủ ủng hộ. Đối ngoại là mặt trận chủ động, tích cực; phương pháp linh hoạt đi cùng giữ vững mục tiêu độc lập, chủ quyền.
**Pa-ri 1973 và nhiệm vụ tiếp theo.** Hiệp định kí 27-1-1973: Hoa Kì và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam; Mỹ và đồng minh phải rút quân. Kết quả tạo điều kiện thuận lợi để tiếp tục giải phóng miền Nam.
Sau kí kết, Việt Nam đấu tranh chống hành động phá hoại hiệp định, đòi chấm dứt can thiệp và kết hợp các mặt đấu tranh đến thắng lợi 1975. Cần phân biệt nghĩa vụ được cam kết với diễn biến thi hành và thắng lợi cuối cùng.
| So sánh hai kết quả ngoại giao | Nội dung cần phân biệt |
|---|---|
| Điểm chung | Gắn với đấu tranh quân sự, chính trị; ghi nhận quyền dân tộc cơ bản |
| Giơ-ne-vơ 1954 | Chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương; miền Bắc được giải phóng, nhiệm vụ miền Nam còn tiếp tục |
| Pa-ri 1973 | Mỹ rút quân; tạo thế thuận lợi cho giải phóng hoàn toàn miền Nam 1975 |
Bài học rút ra gồm đánh giá đúng tình hình, giữ nguyên tắc, linh hoạt sách lược, kết hợp các hướng đối ngoại và sức mạnh dân tộc với quốc tế. Khi vận dụng, cần chỉ ra dẫn chứng và điều kiện phù hợp.
Cùng xem một ví dụ
Giơ-ne-vơ 1954 nói về kết thúc chiến tranh ở Đông Dương; Pa-ri 1973 nói về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và việc Mỹ rút quân. Cả hai gắn quyền dân tộc cơ bản nhưng hoàn cảnh và đối tượng khác nhau.
Thực hành so sánh và rút bài học
Lập bảng đối ngoại trong kháng chiến chống Pháp 1945–1954 và chống Mỹ 1954–1975, cùng tiêu chí: mục tiêu, hướng hoạt động, dẫn chứng, kết quả. Chọn một điểm chung, một điểm khác để giải thích.
Sưu tầm thêm tư liệu chính thống về một bài học đối ngoại. Bài viết cần nêu sự kiện, mục đích, ý nghĩa, bài học và cách vận dụng có căn cứ. Ví dụ, linh hoạt sách lược cần được giải thích qua hoạt động cụ thể và nguyên tắc được giữ vững.
Đọc yêu cầu luyện tập, vận dụng; giữ phần sưu tầm và lập luận thay vì chỉ liệt kê mốc hiệp định.
Bài luyện
Cách giải thích nào phù hợp với quan hệ giữa các mặt đấu tranh trong “vừa đánh, vừa đàm”?
Đúng. Các mặt đấu tranh phối hợp; ngoại giao có vai trò chủ động, tích cực.
Quan hệ đã bị đảo: đấu tranh trong nước tạo thế cho đàm phán, không chờ đàm phán kết thúc chiến sự.
Ủng hộ quốc tế có vai trò quan trọng nhưng không thay quyền chủ động, độc lập của Việt Nam.
Ngoại giao gắn với chiến trường nhưng còn chủ động tranh thủ ủng hộ và tác động trở lại cuộc đấu tranh.
Lời giải
Đấu tranh quân sự, chính trị tạo sức mạnh và cơ sở cho đàm phán. Ngoại giao phát huy thế ấy, chủ động bảo vệ mục tiêu và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Vì vậy, “vừa đánh, vừa đàm” thể hiện sự phối hợp và tác động qua lại, không phải đàm phán tách khỏi chiến trường hoặc thụ động chờ kết quả quân sự.
Bài luyện
Hoạt động nào trực tiếp nhằm đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ sau năm 1954?
Đúng. Hoạt động này gắn trực tiếp với yêu cầu thực hiện nội dung thống nhất đất nước.
Đây là hướng củng cố quan hệ và tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa.
Đây là hướng tăng cường đoàn kết, liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương.
Đây là hướng vận động công luận và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế cho cuộc kháng chiến.
Lời giải
Sau năm 1954, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phối hợp với Uỷ ban Giám sát quốc tế về Hiệp định Giơ-ne-vơ, yêu cầu chính quyền Sài Gòn hiệp thương về tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Các hoạt động còn lại cũng thuộc đối ngoại thời kì này nhưng có đối tượng và mục đích trực tiếp khác.
Bài luyện
Nhận định nào phân biệt đúng kết quả Pa-ri năm 1973 với thắng lợi năm 1975?
Mốc đã bị đảo: Mỹ rút quân sau Hiệp định Pa-ri, còn giải phóng hoàn toàn miền Nam vào năm 1975.
Thống nhất đất nước về mặt nhà nước diễn ra năm 1976, sau thắng lợi năm 1975.
Đúng. Pa-ri là bước quan trọng tạo điều kiện cho quá trình đấu tranh tiếp tục đến thắng lợi năm 1975.
Chấm dứt chiến tranh chống Pháp gắn với Giơ-ne-vơ năm 1954; Mỹ rút quân sau Pa-ri năm 1973.
Lời giải
Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973 ghi nhận các quyền dân tộc cơ bản và buộc Mỹ cùng đồng minh rút quân. Chính quyền Sài Gòn còn tồn tại, cuộc đấu tranh thi hành hiệp định và giải phóng miền Nam còn tiếp tục. Giải phóng hoàn toàn miền Nam là thắng lợi mùa Xuân năm 1975; thống nhất về mặt nhà nước là bước tiếp theo năm 1976.
Bài luyện
So sánh nào đúng về Giơ-ne-vơ năm 1954 và Pa-ri năm 1973?
Đúng. Điểm chung về quyền dân tộc cần được đặt cùng những khác biệt của từng hoàn cảnh.
Hai kết quả bị đổi chỗ: Giơ-ne-vơ gắn với chống Pháp, Pa-ri gắn với việc Mỹ rút quân.
Quan hệ với Trung Quốc, Liên Xô được thiết lập năm 1950; Chính phủ Cách mạng lâm thời ra đời tháng 6-1969.
Giải phóng hoàn toàn miền Nam diễn ra năm 1975; thống nhất về mặt nhà nước diễn ra năm 1976.
Lời giải
Cả hai kết quả ngoại giao đều ghi nhận các quyền dân tộc cơ bản và gắn với đấu tranh quân sự, chính trị. Giơ-ne-vơ năm 1954 chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, miền Bắc được giải phóng. Pa-ri năm 1973 buộc Mỹ rút quân, tạo điều kiện thuận lợi cho giải phóng miền Nam năm 1975. Các kết quả ấy không đồng nhất với thống nhất về mặt nhà nước năm 1976.
Những điều cần nhớ
Vận động quốc tế và vừa đánh vừa đàm; Pa-ri 1973 là bước quan trọng trên đường tới thắng lợi 1975.
Đang học