Từ vấn đề lịch sử
Khởi nghĩa Lam Sơn bắt đầu trong điều kiện khó khăn, sau khi nhà Minh đặt ách đô hộ. Qua nhiều năm, nghĩa quân mở rộng địa bàn, phát triển lực lượng rồi giành những thắng lợi quyết định.
Bối cảnh, bốn giai đoạn và ý nghĩa khởi nghĩa Lam Sơn
Sau khi cuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại năm **1407**, nhà Minh đặt ách đô hộ, đổi tên nước ta thành Giao Chỉ, bóc lột bằng thuế khoá nặng nề, bắt người tài đưa về phục dịch và tìm cách thủ tiêu văn hoá Việt. Nhân dân nổi dậy ở nhiều nơi, tiêu biểu có Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng, nhưng các cuộc khởi nghĩa đều bị đàn áp.
Trước cảnh nước mất, nhân dân lầm than, **Lê Lợi** tập hợp nghĩa sĩ, hào kiệt và chọn Lam Sơn ở Thanh Hoá làm căn cứ. **Hội thề Lũng Nhai năm 1416** tạo cơ sở tập hợp lực lượng. Đầu năm **1418**, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa. Nguyễn Trãi đóng góp lớn về mưu lược, vận động và ngoại giao; thắng lợi gắn với cả phong trào yêu nước do bộ chỉ huy nghĩa quân lãnh đạo.
| Giai đoạn | Hoạt động và bước chuyển |
|---|---|
| 1418–1423 | Nhiều lần bị bao vây, rút lên núi Chí Linh ở miền tây Thanh Hoá để giữ lực lượng. |
| 1423–1424 | Tạm hoà hoãn với quân Minh để củng cố lực lượng, tìm phương hướng mới. |
| 1424–1425 | Theo kế Nguyễn Chích, chuyển vào Nghệ An, mở rộng căn cứ và vùng giải phóng. |
| 1426–1427 | Tiến ra Bắc, thắng Tốt Động–Chúc Động, Chi Lăng–Xương Giang; Hội thề Đông Quan kết thúc chiến tranh. |
Chuyển hướng vào **Nghệ An** giúp nghĩa quân mở rộng căn cứ, vùng giải phóng và huy động thêm nguồn lực. Từ cuối năm 1424, nghĩa quân giải phóng Nghệ An rồi mở rộng từ Thanh Hoá đến đèo Hải Vân, tiến vào Tân Bình, Thuận Hoá. Thế và lực được củng cố tạo điều kiện tiến ra Bắc; đây là bước phát triển của mục tiêu giải phóng đất nước.
Ở giai đoạn cuối, nghĩa quân thắng **Tốt Động–Chúc Động tháng 11-1426**, **Chi Lăng–Xương Giang tháng 10-1427**, rồi tổ chức **Hội thề Đông Quan tháng 12-1427**. Nghĩa quân kết hợp tiến công với vận động, đàm phán. Đánh bại viện binh làm quân Minh trong thành mất chỗ dựa. **Hội thề Đông Quan** do Lê Lợi và Vương Thông dẫn đầu hai phía mở đường cho quân Minh rút về nước, thể hiện tinh thần nhân đạo và hạn chế tổn thất. Tốt Động–Chúc Động thuộc Hà Nội ngày nay; Chi Lăng thuộc Lạng Sơn, còn Cần Trạm, Phố Cát, Xương Giang được SGK hiện hành định vị ở Bắc Ninh. Những chú thích hiện nay giúp đọc địa bàn, không thay tên trận lịch sử.
Khởi nghĩa phát triển thành **chiến tranh giải phóng dân tộc có tính chất nhân dân rộng rãi**. Thắng lợi chấm dứt ách đô hộ nhà Minh, khôi phục độc lập, đập tan âm mưu thủ tiêu văn hoá Đại Việt và mở ra thời kì phát triển mới. Năm **1428**, Lê Lợi lên ngôi, mở đầu nhà Lê sơ. **Bình Ngô đại cáo** do Nguyễn Trãi soạn thay lời Lê Lợi tuyên bố thắng lợi và nền độc lập được khôi phục.
Phân tích một trường hợp
Xếp Tốt Động–Chúc Động sau Chi Lăng–Xương Giang là đảo trình tự: trận thứ nhất thuộc năm 1426, trận thứ hai thuộc năm 1427. Ý nghĩa chung là tạo ưu thế quyết định, nhưng Chi Lăng–Xương Giang trực tiếp đánh bại đạo viện binh ở giai đoạn cuối.
Đọc lược đồ và khai thác Bình Ngô đại cáo
Mở lược đồ SGK tr. 53, đọc chú giải nơi dựng cờ, hướng tiến quân, hướng viện binh Minh và các lớp màu địa bàn. Màu vàng nhạt chỉ khu vực hoạt động năm 1418–1423; xanh lá chỉ vùng giải phóng năm 1424–1425; xanh lam nhạt chỉ vùng giải phóng năm 1426–1427. Từ Lam Sơn, lần theo hướng vào Nghệ An rồi tiến ra Bắc; đối chiếu mũi tên quân Minh và kí hiệu đánh viện binh để giải thích bước chuyển cuối. Đường biên quốc gia ngày nay là thông tin tham chiếu, không phải diễn biến hay phạm vi giải phóng.
Đối chiếu sơ đồ tr. 54 để lập trục bốn giai đoạn: khó khăn ban đầu; tạm hoà hoãn; mở rộng hoạt động; tiến ra Bắc và toàn thắng. Sơ đồ ở đầu mục khái quát trình tự, không thay thế lược đồ địa lí.
Với Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, chọn một đoạn nói về khó khăn ban đầu hoặc thắng lợi ở giai đoạn sau. Ghi tác giả, tên tác phẩm, nguồn bản đọc; chỉ ra sự kiện được nhắc và đối chiếu với trục thời gian. Phân biệt cách biểu đạt của áng văn chính luận với dữ kiện cần xác định bằng đối chiếu tư liệu. Sản phẩm có thể là ba cột: ý trong tác phẩm, sự kiện tương ứng, nguồn kiểm tra.
Ví dụ, Tư liệu 2 ở SGK tr. 55, trích Bình Ngô đại cáo, khẳng định nền độc lập và cuộc sống thái bình sau thắng lợi. Có thể nối ý đó với việc chấm dứt ách đô hộ nhà Minh và mở ra thời kì phát triển mới. Nếu chọn đoạn nói về khó khăn hoặc các trận đánh, cần đối chiếu đúng sự kiện, mốc thời gian trước khi đưa vào bảng.
Bài luyện
Bối cảnh và sự chuẩn bị nào trực tiếp dẫn tới khởi nghĩa Lam Sơn?
Đúng. Cần nối tình trạng bị đô hộ với quá trình tập hợp lực lượng trước khi khởi nghĩa.
Kháng chiến của nhà Hồ thất bại năm 1407; Lam Sơn chống ách đô hộ được thiết lập sau đó.
Lũng Nhai là hội thề tập hợp lực lượng trước khởi nghĩa, không phải sự kiện quân Minh rút.
Tạm hoà hoãn để củng cố lực lượng, không kết thúc ách đô hộ; khởi nghĩa đã bắt đầu năm 1418.
Lời giải
Chính sách cai trị khắc nghiệt của nhà Minh gây nên sự phản kháng của nhân dân. Lê Lợi gây dựng lực lượng, chọn căn cứ Lam Sơn; Hội thề Lũng Nhai năm 1416 góp phần chuẩn bị, rồi dựng cờ khởi nghĩa năm 1418. Không ghép các bước chuẩn bị với thời điểm kết thúc chiến tranh.
Bài luyện
Chuyển hướng vào Nghệ An năm 1424–1425 khác với tạm hoà hoãn năm 1423–1424 ở điểm nào?
Mục tiêu giải phóng vẫn được giữ qua cả hai bước, không phải chấp nhận cai trị rồi đổi mục tiêu.
Các bước này diễn ra trước khi tiến ra Bắc, không phải sau giai đoạn cuối.
Vào Nghệ An là bước mở rộng hoạt động ra ngoài căn cứ ban đầu.
Đúng. Hai bước nối tiếp nhau nhưng có hoạt động và tác dụng cụ thể khác nhau.
Lời giải
Sau những năm khó khăn, tạm hoà hoãn giúp nghĩa quân củng cố lực lượng và tìm phương hướng mới. Theo kế của Nguyễn Chích, chuyển vào Nghệ An giúp mở rộng căn cứ, vùng giải phóng, huy động thêm lực lượng, tạo cơ sở tiến ra Bắc. Cả hai vẫn phục vụ mục tiêu giải phóng đất nước.
Bài luyện
Sự kiện nào gắn đúng với giai đoạn cuối khởi nghĩa Lam Sơn?
Hai nhóm chiến thắng đã bị đảo thời gian.
Đúng. Trình tự gồm thắng lợi năm 1426, đánh viện binh năm 1427 rồi hội thề kết thúc chiến tranh.
Chuyển vào Nghệ An thuộc giai đoạn 1424–1425; Đông Quan diễn ra sau các thắng lợi lớn.
Lũng Nhai thuộc năm 1416, dựng cờ thuộc năm 1418, không phải cuối năm 1427.
Lời giải
Tốt Động–Chúc Động diễn ra tháng 11-1426; Chi Lăng–Xương Giang gắn với đánh viện binh tháng 10-1427. Hội thề Đông Quan diễn ra tháng 12-1427, trên cơ sở ưu thế quân sự nghĩa quân đã tạo được.
Bài luyện
Vì sao đánh bại viện binh Minh tạo điều kiện cho Hội thề Đông Quan kết thúc chiến tranh?
Quân Minh còn trong thành; điều thay đổi là họ mất lực lượng tiếp viện và chỗ dựa.
Mục tiêu khôi phục độc lập đã có từ khi khởi nghĩa, không bắt đầu ở giai đoạn cuối.
Đúng. Kết quả quân sự củng cố điều kiện đàm phán và rút quân.
Đây không phải hoàn cảnh tạm hoà hoãn năm 1423–1424; giai đoạn cuối nghĩa quân đang có ưu thế.
Lời giải
Viện binh bị đánh bại làm quân Minh trong thành bị cô lập hơn. Trên cơ sở ưu thế đã có, nghĩa quân kết hợp đàm phán, hội thề với kết quả quân sự để mở đường cho đối phương rút, khôi phục độc lập và hạn chế tổn thất.
Ghi nhớ
Lam Sơn: khó khăn ban đầu → Nghệ An → tiến ra Bắc → thắng viện binh → Đông Quan. Phân biệt kết thúc chiến tranh năm 1427 và lập nhà Lê sơ năm 1428.
Đang học