btvn.vn

Phong trào đấu tranh và các giai đoạn giành độc lập

Lưu trên thiết bị này
Quá trình giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á · Chọn bài khác

Cuộc đấu tranh tiếp tục qua những bước nào?

Nhân dân Đông Nam Á chống xâm lược từ khi thực dân đặt chân đến. Về sau, khi ách cai trị được thiết lập, nhiệm vụ giành lại độc lập tiếp tục với những lực lượng và khuynh hướng mới.

Từ chống xâm lược đến giành và bảo vệ độc lập

**Phong trào chống xâm lược ban đầu** thường do vua, hoàng thân, thủ lĩnh địa phương hoặc lực lượng yêu nước lãnh đạo, thu hút đông đảo nhân dân: - Ở hải đảo, khởi nghĩa **Đi-pô-nê-gô-rô** chống Hà Lan tại In-đô-nê-xi-a (1825–1830) gây tổn thất lớn cho thực dân. Tại Phi-líp-pin, khởi nghĩa **Đa-ga-hô** ở Bô-hô (1744–1829) là một cuộc đấu tranh tiêu biểu chống Tây Ban Nha. - Ở lục địa, quân đội và nhân dân **Miến Điện** chống Anh qua các cuộc chiến tranh, rồi tiếp tục chiến tranh du kích sau khi đất nước bị chiếm. Tại **Việt Nam**, từ năm 1858, quân dân chống Pháp ở Đà Nẵng và nhiều nơi, làm thất bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh. - Tại **Cam-pu-chia**, các cuộc khởi nghĩa của Si-vô-tha, A-cha Xoa, Pu-côm-bô cho thấy phong trào chống Pháp lan rộng. Nghĩa quân Pu-côm-bô liên kết chiến đấu với Trương Quyền, thể hiện tình đoàn kết chống kẻ thù chung. - Tại **Lào**, nhân dân cũng chống thực dân Pháp, tiêu biểu là nghĩa quân Ông Kẹo, Ông Kommađăm ở Nam Lào đầu thế kỉ XX. Trường hợp này được Bảo tàng Lịch sử quốc gia giới thiệu trong sưu tập tư liệu Việt Nam–Lào. Nhiều cuộc đấu tranh bị đàn áp nhưng đã gây tổn thất, cản trở quá trình xâm lược và thể hiện tinh thần bất khuất. Sau khi ách cai trị thuộc địa được thiết lập, nhiệm vụ **giành lại độc lập dân tộc** tiếp tục với sự chuyển biến về lực lượng, khuynh hướng và thành quả đấu tranh. | Giai đoạn | Chuyển biến chính và ví dụ | |---|---| | Cuối thế kỉ XIX–1920 | Chuyển từ chống xâm lược sang giành độc lập; phong trào theo khuynh hướng tư sản phát triển, tiêu biểu ở Phi-líp-pin (1896–1898). Giai cấp vô sản ra đời và phát triển, tạo nền tảng cho khuynh hướng mới. | | 1920–1945 | Giai cấp vô sản bước lên vũ đài chính trị; các đảng cộng sản ra đời, như ở In-đô-nê-xi-a năm 1920 và một số nước khác trong những năm 1930, mở ra khuynh hướng vô sản trong phong trào. | | 1945–1975 | Làn sóng giành độc lập dâng cao; nhiều nước tiếp tục kháng chiến để giải phóng dân tộc và bảo vệ thành quả độc lập. | Năm **1945**, In-đô-nê-xi-a, Việt Nam và Lào tuyên bố độc lập. Nhật Bản đầu hàng tạo thời cơ thuận lợi, nhưng thành quả ấy gắn với quá trình chuẩn bị và đấu tranh của nhân dân. Các mốc Phi-líp-pin năm **1946**, Miến Điện năm **1948** và thắng lợi ở Đông Dương cho thấy thời điểm, con đường đi đến độc lập khác nhau giữa các nước. **Tuyên bố độc lập** khác với việc đối phương công nhận hoặc chấm dứt chiến tranh. Việt Nam tuyên bố độc lập năm 1945 nhưng còn phải kháng chiến để bảo vệ độc lập, giải phóng và thống nhất đất nước. Cách phân kì trong bảng khái quát ba giai đoạn chính, không có nghĩa mọi quốc gia hiện nay đều hoàn thành vào năm 1975: **Bru-nây giành độc lập năm 1984**. Chi tiết mở rộng: **Đông Ti-mo khôi phục độc lập năm 2002**, theo tư liệu Liên Hợp Quốc. Sự xuất hiện khuynh hướng mới cũng không làm mọi hình thức đấu tranh trước đó lập tức biến mất ở tất cả các nước.

Phân tích một trường hợp

Một bảng ghi Việt Nam “độc lập năm 1945” và “hoàn thành giải phóng miền Nam năm 1975” không mâu thuẫn. Mốc đầu nói Cách mạng tháng Tám và tuyên bố độc lập; mốc sau nói thắng lợi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành giải phóng miền Nam.

Lập trục thời gian và nhận xét

Lập trục gồm ba giai đoạn trong bảng; mỗi giai đoạn ghi một chuyển biến nổi bật và một ví dụ. Với cuối thế kỉ XIX–1920, có thể dùng phong trào mang xu hướng tư sản ở Phi-líp-pin (1896–1898); với 1920–1945, ghi sự xuất hiện các đảng cộng sản; với giai đoạn sau năm 1945, ghi những thắng lợi giành và bảo vệ độc lập. Sau đó viết một nhận xét có dẫn chứng: phong trào diễn ra lâu dài, có sự thay đổi về khuynh hướng và hình thức, kết quả không đến đồng thời. Ghi riêng Bru-nây năm 1984. Chi tiết mở rộng về Đông Ti-mo khôi phục độc lập năm 2002 giúp tránh hiểu phân kì 1945–1975 là mốc hoàn tất chung cho mọi quốc gia Đông Nam Á hiện nay; đây không phải một giai đoạn thứ tư thay thế cách phân kì đang học. Khi trình bày, phân biệt chống xâm lược ban đầu với đấu tranh giành lại độc lập sau khi ách thuộc địa đã được thiết lập. Giải thích ít nhất một ví dụ cho mỗi nhiệm vụ, thay vì chỉ liệt kê tên nước.

Bài luyện

Cặp cuộc đấu tranh và thế lực thực dân nào được ghép đúng?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Chuyển biến nào là nét mới của phong trào giành độc lập ở Đông Nam Á trong giai đoạn 1920–1945?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Hai mốc Việt Nam năm 1945 và năm 1975 cần được phân biệt như thế nào?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Mốc nào là dẫn chứng được SGK nêu để thấy phân kì 1945–1975 không có nghĩa mọi nước Đông Nam Á đều hoàn thành giành độc lập trong khoảng ấy?
Chọn một đáp án

Ghi nhớ

Phong trào có các khuynh hướng và giai đoạn kế tiếp. Gắn mỗi mốc độc lập với quốc gia, phân biệt tuyên bố độc lập với quá trình bảo vệ và hoàn thành giải phóng.

Đang học