btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

Nhật Bản 1952–1973: chính trị và xã hội

Lưu trên thiết bị này
Nhật Bản: hành trình lịch sử từ năm1945 · Chọn bài khác

Bắt đầu từ vấn đề

Chính trị, quan hệ quốc tế và đời sống xã hội giúp hoàn thiện bức tranh Nhật Bản thời tăng trưởng cao. Thành tựu cần được nhìn cùng những thách thức phát sinh.

Kiến thức cần hiểu

**Chính trị trong nước và đường hướng phát triển** Trong giai đoạn 1952–1973, Nhật Bản tiếp tục vận hành khuôn khổ chính trị sau cải cách. **Đảng Dân chủ Tự do**, viết tắt **LDP**, thành lập năm **1955** và nắm vai trò cầm quyền từ đó trong giai đoạn này. Cần giới hạn nhận xét theo thời gian, không dùng đặc điểm của một giai đoạn cho mọi thời kì về sau. Chính phủ hướng tới phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh. Dưới thời Thủ tướng I-kê-đa, chủ trương xây dựng phúc lợi gắn tăng trưởng với việc nâng cao đời sống. Sự ổn định và những chính sách phát triển là một phần bối cảnh của tăng trưởng cao. **Mở rộng quan hệ và vị thế quốc tế** Quan hệ liên minh với Mỹ tiếp tục có vai trò quan trọng. Đồng thời, Nhật Bản từng bước mở rộng quan hệ, tham gia các hoạt động và tổ chức quốc tế. Năm **1956**, Nhật Bản bình thường hoá quan hệ với Liên Xô và gia nhập Liên hợp quốc. Việc đăng cai **Thế vận hội Tô-ki-ô 1964** là một dấu mốc thể hiện năng lực tổ chức, cơ sở hạ tầng và sự trở lại của Nhật Bản trong đời sống quốc tế. Kinh tế phát triển và nhu cầu giao thương tạo điều kiện, động lực cho đường hướng đối ngoại tích cực hơn. Khi phân tích vị thế, cần kết hợp nhiều dẫn chứng: năng lực kinh tế, tham gia tổ chức, quan hệ ngoại giao và tổ chức sự kiện. Một ảnh lễ hội hoặc một con số kinh tế riêng lẻ chỉ phản ánh một mặt của quá trình. **Tiến bộ xã hội** Tăng trưởng tạo thêm nguồn lực cho giáo dục, y tế và đời sống. SGK mô tả trình độ học vấn, điều kiện chăm sóc sức khoẻ được cải thiện; nhiều gia đình có các thiết bị gia dụng như tivi, tủ lạnh, máy giặt. Những biểu hiện ấy cho thấy phát triển kinh tế đi cùng thay đổi trong sinh hoạt. Năng lực giáo dục vừa là kết quả của đầu tư, vừa hỗ trợ trở lại sản xuất thông qua nguồn lao động có kiến thức, kĩ năng. Khi giải thích, cần nhìn quan hệ tương tác thay vì đặt giáo dục chỉ ở một phía nguyên nhân hoặc kết quả. **Những thách thức cùng tồn tại** Phát triển nhanh cũng làm nổi lên **ô nhiễm môi trường**, khó khăn **nhà ở**, quản lí xã hội và những vấn đề trong bộ máy chính trị như tham nhũng. Các mặt tiến bộ và hạn chế cùng tồn tại; tăng tổng sản phẩm không tự bảo đảm mọi vấn đề xã hội được giải quyết. Một bản phân tích nên có đủ ba mặt: đường hướng chính trị, thay đổi đời sống và khó khăn phát sinh. Mỗi nhận định cần gắn dẫn chứng đúng giai đoạn 1952–1973. Cách nhìn này giúp đánh giá sự phát triển trên nhiều tiêu chí, đồng thời chuẩn bị để hiểu các điều chỉnh sau năm 1973.

Đọc và giải thích

Dẫn chứng về thiết bị gia dụng giúp nói về thay đổi sinh hoạt, còn Thế vận hội 1964 giúp phân tích năng lực tổ chức và sự hiện diện quốc tế. Hai dẫn chứng cùng liên quan phát triển nhưng trả lời những tiêu chí khác nhau.

Đọc thành tựu và thách thức trên cùng trang

Đọc mục chính trị, xã hội trong SGK. Lập hai nhóm dẫn chứng về thay đổi tích cực và vấn đề còn tồn tại, sau đó giải thích vì sao cần dùng cả hai nhóm khi đánh giá. Ghi đúng giai đoạn của mỗi nhận xét; nếu tìm số liệu hiện tại để so sánh, phải nêu nguồn và năm, không dùng thay số liệu lịch sử.

Bài luyện

Nhận xét nào đặt đúng phạm vi về LDP trong bài?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Cặp dẫn chứng nào thuộc việc mở rộng vị thế quốc tế Nhật Bản trong giai đoạn 1952–1973?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Mối quan hệ giữa giáo dục và phát triển kinh tế được giải thích thế nào?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Vì sao đánh giá xã hội thời tăng trưởng cao cần nêu cả khó khăn?
Chọn một đáp án

Những điều cần nhớ

Giai đoạn 1952–1973 có chính sách phát triển, mở rộng vị thế và tiến bộ đời sống. Ô nhiễm, nhà ở, quản lí là những thách thức cần đặt cạnh thành tựu.

Đang học