btvn.vn

Từ Việt Bắc, Biên giới đến Điện Biên Phủ

Lưu trên thiết bị này
Kháng chiến chống thực dân Pháp (1945–1954) · Chọn bài khác

Cùng bắt đầu

Ta không cần nhớ mọi trận đánh để thấy tiến trình chung. Hãy gắn mỗi chiến dịch lớn với điều kiện mở chiến dịch, kết quả và thay đổi mà nó tạo ra.

Kiến thức cần nhớ

| Chiến dịch / giai đoạn | Nét chính | Ý nghĩa nổi bật | |---|---|---| | Việt Bắc thu–đông 1947 | đánh bại cuộc tiến công của Pháp lên căn cứ; bảo vệ cơ quan đầu não | làm thất bại chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh | | Biên giới thu–đông 1950 | chủ động tiến công, tiêu biểu trận Đông Khê, giải phóng vùng biên giới, làm phá sản Kế hoạch Rơ-ve | khai thông liên lạc quốc tế; giành thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ | | 1951–1953 | các chiến dịch Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào và các hoạt động phối hợp | tiếp tục phát triển lực lượng, giữ và mở rộng thế chủ động | | Đông–Xuân 1953–1954 | tiến công vào các hướng quan trọng mà đối phương tương đối yếu | buộc Pháp phân tán lực lượng, bước đầu làm phá sản Kế hoạch Na-va | | Điện Biên Phủ 1954 | tiến công tập đoàn cứ điểm qua ba đợt, từ 13-3 đến 7-5 | đòn quyết định vào Kế hoạch Na-va, tạo cơ sở quan trọng cho đàm phán kết thúc chiến tranh | Năm 1947, quân đội Việt Nam **phản công** khi Pháp tiến công lên Việt Bắc. Năm 1950, quân đội Việt Nam chủ động mở chiến dịch **tiến công** lớn. Quyền chủ động sau Biên giới được xác định trên chiến trường chính Bắc Bộ; không mở rộng thành “làm chủ toàn bộ Đông Dương ngay năm 1950”. Kế hoạch Na-va năm 1953 nhằm giành thắng lợi quân sự quyết định trong thời gian ngắn để kết thúc chiến tranh có lợi cho Pháp. Chủ trương tiến công Đông–Xuân buộc đối phương chia quân đối phó nhiều hướng, làm giảm khả năng tập trung theo kế hoạch. Chiến dịch Điện Biên Phủ do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng: đợt một 13–17-3; đợt hai 30-3 đến 26-4; đợt ba 1–7-5. Ngày 7-5, sở chỉ huy bị đánh chiếm, tướng Đờ Cát-xtơ-ri cùng bộ chỉ huy đầu hàng. Chiến thắng gắn với lãnh đạo, chiến đấu và bảo đảm hậu cần rất lớn của nhân dân. Có thể chia mạch kháng chiến thành bốn chặng: 1945–1946 bảo vệ chính quyền và chuẩn bị; 1946–1950 toàn quốc kháng chiến, từ giam chân đến bảo vệ căn cứ và giành chủ động; 1951–1953 phát triển thế và lực; 1953–1954 tiến công chiến lược, giành thắng lợi quyết định. Khi lập bảng, cần ghi cả hoạt động chính trị, xây dựng hậu phương và kết quả quân sự, không chỉ ghi danh sách trận đánh.

Cùng xem một ví dụ

Ghép “bảo vệ căn cứ, đánh bại tiến công của Pháp” với Việt Bắc 1947; ghép “khai thông đường liên lạc quốc tế, giành chủ động ở Bắc Bộ” với Biên giới 1950. Ta dùng ý nghĩa đặc trưng để phân biệt, không chỉ nhớ cả hai đều là thắng lợi.

Thực hành hệ thống bốn chặng

Lập bảng bốn chặng 1945–1946, 1946–1950, 1951–1953, 1953–1954. Mỗi chặng chọn một hoạt động xây dựng lực lượng và một diễn biến đấu tranh, rồi giải thích bước phát triển so với chặng trước. Ví dụ, ở chặng 1946–1950, Việt Bắc bảo vệ căn cứ khi Pháp tiến công; Biên giới là chiến dịch chủ động tiến công, tạo thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ. Đây là thay đổi về thế chiến lược, không đơn thuần thêm một tên chiến dịch. Đối chiếu yêu cầu luyện tập với bảng tự lập; bổ sung những mặt còn thiếu bằng nội dung bài 7.

Bài luyện

Cách so sánh hai chiến dịch Việt Bắc 1947 và Biên giới 1950 nào đúng?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Thắng lợi Biên giới 1950 giúp quân đội Việt Nam giành thế chủ động ở phạm vi nào?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Tác dụng trực tiếp của tiến công Đông–Xuân 1953–1954 đối với Kế hoạch Na-va là gì?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Nhóm nội dung nào phù hợp chặng 1951–1953 khi lập bảng tiến trình kháng chiến?
Chọn một đáp án

Những điều cần nhớ

1947: bảo vệ căn cứ; 1950: chủ động ở Bắc Bộ; 1953–1954: phân tán đối phương; 7-5-1954: Điện Biên Phủ thắng lợi.

Đang học