Từ vấn đề lịch sử
Quân Mông–Nguyên có ưu thế lớn khi xâm lược Đại Việt. Nhà Trần không chỉ dựa vào một trận quyết chiến, mà kết hợp chuẩn bị lực lượng, đoàn kết nhân dân, rút lui bảo toàn lực lượng và phản công khi thuận lợi.
Ba lần kháng chiến và cách tạo thế phản công
Trong thế kỉ XIII, quân dân nhà Trần ba lần đánh bại các cuộc xâm lược của Mông–Nguyên. Mỗi lần có thời điểm, lực lượng chỉ huy và các trận đánh tiêu biểu riêng.
| Lần kháng chiến | Lãnh đạo và trận đánh tiêu biểu |
|---|---|
| 1258, chống Mông Cổ | Trần Thái Tông, Trần Thủ Độ; chặn đánh ở Bình Lệ Nguyên, phản công thắng lợi ở Đông Bộ Đầu. |
| 1285, chống Nguyên | Vai trò lãnh đạo, chỉ huy của các vua Trần và Trần Quốc Tuấn; thắng Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, giải phóng Thăng Long. |
| 1287–1288, chống Nguyên | Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn; chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. |
Vai trò lãnh đạo thuộc triều Trần, cùng sự tham gia, ủng hộ của đông đảo nhân dân. Hội nghị **Bình Than năm 1282** bàn kế đánh giặc; Hội nghị **Diên Hồng năm 1285** thể hiện quyết tâm kháng chiến. Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ để khích lệ quân sĩ. Những hoạt động ấy góp phần thống nhất ý chí và hành động; không từ vai trò nổi bật của Trần Quốc Tuấn trong các lần sau suy ra ông là người chỉ huy chủ yếu của cả ba lần.
Nhà Trần lựa chọn cách đánh linh hoạt: trước sức mạnh ban đầu của địch, rút lui có tổ chức để bảo toàn lực lượng, thực hiện **vườn không nhà trống** khiến đối phương khó lấy lương thực tại chỗ. Quân dân ta tiếp tục chiến đấu, chờ thời cơ phản công khi địch suy yếu. Vì vậy, rút khỏi kinh thành là một bước trong kế hoạch kháng chiến, khác với chấm dứt chống xâm lược.
Trong lần thứ ba, việc đánh vào tiếp tế góp phần làm quân Nguyên khó khăn. Khi đoàn thuyền địch rút qua **Bạch Đằng năm 1288**, quân dân nhà Trần tận dụng địa hình, thuỷ triều, trận địa chuẩn bị trước và sự phối hợp lực lượng để giành thắng lợi quyết định. Trận đánh là kết quả của cả quá trình tạo thế và lựa chọn thời cơ.
Theo chú thích SGK hiện hành, Bình Lệ Nguyên ở Phú Thọ; Đông Bộ Đầu, Chương Dương, Thăng Long ở Hà Nội; Tây Kết, Hàm Tử ở Hưng Yên; Bạch Đằng gắn với Quảng Ninh, Hải Phòng. Đây là thông tin định vị ngày nay; tên trận và địa danh lịch sử vẫn được giữ.
Ba lần thắng lợi **bảo vệ độc lập và lãnh thổ**, khẳng định sức mạnh đoàn kết dân tộc. Nguyên nhân cần được giải thích bằng đường lối, tổ chức, chỉ huy, sự tham gia của nhân dân và việc khai thác những khó khăn của quân xâm lược.
Phân tích một trường hợp
Hai chiến thắng Bạch Đằng có điểm chung là khai thác thủy triều và trận địa chuẩn bị trước. Nhưng năm 938 gắn với Ngô Quyền chống Nam Hán; năm 1288 gắn với nhà Trần chống Nguyên. Ta phải xác định cả năm, lực lượng lãnh đạo và đối phương.
Từ dẫn chứng đến giải thích thắng lợi
Lập ba dòng thời gian cho 1258, 1285, 1287–1288, mỗi dòng ghi đối phương, lãnh đạo tiêu biểu, một thắng lợi và kết quả. Sau đó dùng một dẫn chứng để giải thích mỗi yếu tố: đoàn kết, cách đánh linh hoạt và chỉ huy phù hợp. Hội nghị Bình Than năm 1282 và Diên Hồng năm 1285 là những ví dụ về việc bàn kế và củng cố quyết tâm chống giặc.
Đối chiếu hai cách rút lui: rút lui có tổ chức để bảo toàn lực lượng khác với chấm dứt kháng chiến. Muốn chứng minh sự khác nhau, cần nêu cả hành động sau đó, như tiếp tục gây khó khăn cho địch và phản công khi có thời cơ. Nếu chỉ ghi “rút khỏi kinh thành” thì chưa đủ đánh giá cả kế hoạch.
Một đoạn phân tích đạt yêu cầu phải giải thích được vì sao dẫn chứng hỗ trợ nhận định. Liệt kê hội nghị, trận đánh và tên tướng mà không nối với kết quả vẫn mới là ghi nhớ sự kiện.
Bài luyện
Cặp thời gian và trận đánh nào gắn đúng với ba lần kháng chiến chống Mông–Nguyên?
Hàm Tử thuộc năm 1285, Bạch Đằng thuộc năm 1288, Đông Bộ Đầu thuộc năm 1258.
Đông Bộ Đầu đúng; hai nhóm trận của lần thứ hai và thứ ba bị đảo.
Các trận đánh đã bị đặt sai lần kháng chiến.
Đúng. Cần ghép sự kiện tiêu biểu với từng lần, không chỉ sắp xếp các con số thời gian.
Lời giải
Năm 1258, quân Trần phản công ở Đông Bộ Đầu. Năm 1285 có các chiến thắng Hàm Tử, Chương Dương và Tây Kết. Lần thứ ba 1287–1288 kết thúc bằng chiến thắng quyết định trên sông Bạch Đằng năm 1288.
Bài luyện
Cách ghép vai trò lãnh đạo, chỉ huy với thời điểm nào đúng theo nội dung bài học?
Vai trò nổi bật của các nhân vật đã bị đảo giữa hai thời điểm.
Đúng. Cả hai lần thuộc thời Trần nhưng cần xác định đúng nhân vật của từng lần.
Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt gắn với chống Tống, không thuộc bộ chỉ huy lần thứ ba chống Nguyên.
Lý Thường Kiệt gắn với thế kỉ XI; Trần Thái Tông không phải người lãnh đạo kháng chiến năm 1287–1288.
Lời giải
SGK nêu Trần Thái Tông, Trần Thủ Độ ở năm 1258 và Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn ở năm 1287–1288. Phân biệt từng thời điểm giúp tránh quy mọi vai trò chỉ huy về một người hoặc một bộ chỉ huy chung không thay đổi.
Bài luyện
Chuỗi giải thích nào đúng về việc nhà Trần rút lui có tổ chức và thực hiện vườn không nhà trống?
Đúng. Đây là các bước có quan hệ trong cách tạo thế phản công.
Đây là cách chủ động tiến công của nhà Lý chống Tống, khác với vai trò của rút lui và vườn không nhà trống thời Trần.
Đây là bước đánh viện binh ở giai đoạn cuối Lam Sơn, không phải vai trò của kế sách đang hỏi.
Chi tiết này gần với cách tiến công của Quang Trung chống Thanh; câu hỏi đang xét việc tạo thế phản công qua rút lui và gây khó về lương thực.
Lời giải
Rút lui có tổ chức giúp quân ta bảo toàn lực lượng trước thế mạnh ban đầu của địch. Vườn không nhà trống làm đối phương khó khai thác lương thực tại chỗ. Khi địch suy yếu, quân dân ta chủ động phản công; cần nhìn các hành động trong cả kế hoạch.
Bài luyện
Cặp chiến thắng Bạch Đằng nào được phân biệt đúng?
Đối phương bị đảo.
Ngô Quyền gắn với năm 938, Lê Hoàn với năm 981.
Đúng. Phải ghép đúng thời gian, lãnh đạo và đối phương.
Hai trận cách nhau nhiều thế kỉ, thuộc hai cuộc kháng chiến.
Lời giải
Cùng địa bàn Bạch Đằng nhưng năm 938 là chiến thắng của Ngô Quyền chống Nam Hán; năm 1288 là chiến thắng của nhà Trần chống Nguyên. Địa điểm chung không làm hai sự kiện thành một.
Ghi nhớ
Nhớ ba mốc và thắng lợi tiêu biểu. Đoàn kết, tổ chức và cách đánh linh hoạt giúp biến hiểu biết địa hình thành lợi thế thực tế.
Đang học