btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

ASEAN ra đời: bối cảnh và mục tiêu hợp tác

Lưu trên thiết bị này
ASEAN: những chặng đường lịch sử · Chọn bài khác

Nhu cầu hợp lực ở Đông Nam Á

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, xu hướng liên kết khu vực phát triển. Ở Đông Nam Á, các nước có nhu cầu hợp tác để phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời tăng sức mạnh tập thể trước cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn trong Chiến tranh lạnh. Có thể phân biệt điều kiện quốc tế với nhu cầu của chính các nước trong khu vực. Giải thích sự ra đời ASEAN chỉ bằng sức ép bên ngoài sẽ bỏ mất động lực phát triển và khả năng chủ động hợp tác của các quốc gia Đông Nam Á.

Những bước liên kết trước 1967

Đầu những năm 60, Hiệp hội Đông Nam Á được thành lập năm 1961 với Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Thái Lan; MAPHILINDO hình thành năm 1963 với Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a. Những tổ chức này tồn tại trong thời gian ngắn vì bất đồng giữa một số nước. Nửa sau những năm 60, nhu cầu hợp tác được nhận thức rõ hơn, quan hệ giữa các nước có những chuyển biến thuận lợi. Các cuộc thảo luận đưa tới một tổ chức khu vực mới. Những thử nghiệm trước đó giúp thấy ASEAN ra đời qua một quá trình, không phải mọi điều kiện hợp tác đều có sẵn ngay từ đầu.

Tuyên bố Băng Cốc năm 1967

Ngày 8-8-1967, tại Băng Cốc, ngoại trưởng năm nước In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Xin-ga-po, Thái Lan thông qua Tuyên bố ASEAN, còn gọi là Tuyên bố Băng Cốc. Sự kiện đánh dấu thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Tư liệu trong SGK nêu những mục đích quan trọng: thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá; thúc đẩy hoà bình, ổn định trên cơ sở công lí, luật pháp và Hiến chương Liên hợp quốc; tăng hợp tác và giúp đỡ nhau trong những vấn đề cùng quan tâm. Phát triển và hoà bình có quan hệ: môi trường ổn định giúp sản xuất, trao đổi, đầu tư; hợp tác có thể tăng hiểu biết, xây dựng lòng tin. Mục đích chung tạo định hướng cho những bước liên kết tiếp theo. Đọc tư liệu, xác định các động từ thể hiện mục đích và giải thích mỗi mục đích giải quyết nhu cầu nào của khu vực.

Phân biệt bối cảnh và mục đích

Ví dụ minh hoạ: nhu cầu phối hợp để ứng phó vấn đề vượt khả năng một nước là lí do hợp tác; nâng đời sống thông qua hoạt động chung là điều tổ chức hướng tới. Trong giải thích lịch sử, hai phần liên hệ nhưng không thay thế cho nhau. Tuyên bố Băng Cốc 1967 là văn kiện thành lập. Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác 1976 thuộc bước phát triển sau đó. Nếu câu hỏi xác định sự ra đời, cần chọn đúng văn kiện và thời điểm thay vì ghép những mốc nổi bật thành cùng một sự kiện.

Hệ thống hoá theo câu hỏi

| Câu hỏi | Nội dung cần nêu | |---|---| | Vì sao liên kết? | Nhu cầu phát triển, ổn định, sức mạnh tập thể và xu hướng khu vực hoá | | Liên kết được hình thành thế nào? | Thử nghiệm ban đầu, thảo luận, Tuyên bố ngày 8-8-1967 | | Gồm những nước nào lúc đầu? | Năm nước sáng lập, không lấy danh sách thành viên về sau | | Hướng tới điều gì? | Hoà bình, thịnh vượng, hợp tác phát triển nhiều lĩnh vực | ASEAN là tổ chức hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực. Việc cùng theo đuổi mục đích không có nghĩa mọi thành viên trở thành một quốc gia hay mất hết khác biệt.

Đọc nguồn về sự thành lập

Một giới thiệu ngắn cần có bối cảnh, các bước hình thành, ngày–địa điểm, nước sáng lập và mục đích. Khi sử dụng ảnh lễ kí, ghi đúng chú thích và kết hợp văn bản Tuyên bố để giải thích nội dung. Có thể chọn một mục đích rồi nối với nhu cầu được nêu trong SGK. Nhận xét có căn cứ sẽ cho thấy hợp tác khu vực là một cách cùng giải quyết vấn đề phát triển, an ninh và vị thế; không chỉ học thuộc ngày thành lập.

Bài luyện

Nhóm nào đúng năm nước sáng lập ASEAN?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Văn kiện nào đánh dấu thành lập ASEAN?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Cách giải thích nào bao quát hơn bối cảnh ASEAN ra đời?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Mục đích nào được nêu phù hợp với Tuyên bố thành lập?
Chọn một đáp án

Đang học