Số cá thể tăng vì những nguyên nhân nào?
Trong một khoảng thời gian, cá thể mới sinh và nhập cư làm quần thể tăng; cá thể chết và xuất cư làm quần thể giảm. Ta bắt đầu bằng phép đếm đó, rồi tìm hiểu vì sao tốc độ tăng không giữ nguyên mãi.
Bốn thành phần của biến động số lượng
Nếu $N_0$ là số cá thể đầu kì, $B$ là số sinh, $D$ là số chết, $I$ là số nhập cư và $E$ là số xuất cư trong cùng kì:
$$N_1=N_0+B-D+I-E.$$
Độ biến động là $\Delta N=B-D+I-E$. Giá trị dương nghĩa là tăng, âm nghĩa là giảm; quần thể kín có $I=E=0$.
Các số phải cùng một khoảng thời gian. Nếu đề cho phần trăm, xác định mẫu số trước khi đổi ra số cá thể; không cộng trực tiếp một số cá thể với một tỉ lệ phần trăm.
Tính số cá thể cuối mùa
Một quần thể đầu mùa có 800 cá thể. Trong mùa có 120 cá thể sinh ra, 70 cá thể chết, 40 cá thể nhập cư và 30 cá thể xuất cư.
| Thành phần | Thay đổi số cá thể |
|---|---:|
| Sinh | +120 |
| Chết | −70 |
| Nhập cư | +40 |
| Xuất cư | −30 |
| Tổng biến động | +60 |
Cuối mùa: N₁ = 800 + 60 = 860 cá thể. Mức tăng so với đầu mùa là 60/800 × 100% = 7,5%.
Nếu chỉ tính sinh trừ chết, ta được 50 và bỏ sót tác động di cư. Nếu hỏi số cuối mùa, đáp án là 860, không phải 60.
Tìm mức lấy ra theo phép cân đối
Trong một mô hình bài tập, quần thể đầu kì có 600 cá thể; trong kì sinh 180, chết 90, không có nhập cư hay xuất cư khác. Gọi H là số cá thể bị lấy ra. Muốn cuối kì còn ít nhất 600 cá thể thì H phải thỏa điều kiện nào?
Đúng. Phần tăng ròng trước khi lấy ra là $180-90=90$ cá thể.
Mức sinh 180 chưa trừ 90 cá thể chết trong cùng kì.
Lấy quá 90 cá thể làm số cuối kì thấp hơn 600 trong mô hình.
Lấy 600 cá thể không đáp ứng yêu cầu duy trì tối thiểu 600.
Lời giải
$N_1=600+180-90-H$. Điều kiện $N_1\ge600$ cho $600+180-90-H\ge600$, suy ra $H\le90$. Đây là kết quả của mô hình số sinh, chết cố định đã cho, không phải định mức khai thác thực tế. Chọn A.
Hai dạng tăng trưởng cơ bản
Trong mô hình nguồn sống chưa hạn chế, quần thể có thể tăng theo tiềm năng, tạo đường cong gần chữ J. Số cá thể càng lớn thì số tăng thêm trong các khoảng bằng nhau có thể càng nhiều.
Khi nguồn sống bị giới hạn, mức tăng dần bị kìm hãm; mô hình tăng trưởng chữ S thể hiện giai đoạn tăng chậm, tăng nhanh rồi chậm lại gần sức chứa K. K biểu thị mức quần thể môi trường có thể duy trì trong điều kiện đang xét.
Sơ đồ minh họa giúp so hai dạng, không phải số liệu đo một loài cụ thể. K có thể đổi khi nguồn sống hoặc điều kiện thay đổi. Trong tự nhiên, quần thể có thể dao động hoặc vượt tạm thời mức này; không phải luôn nằm đúng một đường cong trơn.
Vì sao quần thể không tăng mãi?
Khi mật độ tăng, nguồn sống tính cho mỗi cá thể có thể giảm; cạnh tranh, lây truyền tác nhân bệnh hoặc tác động của kẻ ăn có thể làm mức sinh giảm, mức chết tăng hoặc thúc đẩy xuất cư. Những phản hồi này góp phần điều hòa mật độ.
Khi số lượng giảm và nguồn sống còn phù hợp, mức cạnh tranh có thể nhẹ hơn, tạo điều kiện phục hồi. Tuy nhiên, nếu quá ít cá thể, việc tìm cá thể giao phối hoặc hỗ trợ lại khó khăn; không phải càng ít thì quần thể chắc chắn phục hồi càng nhanh.
Các yếu tố như biến động thời tiết cũng tác động. Cơ chế điều hòa không bảo đảm mọi quần thể luôn cân bằng hoặc không thể tuyệt chủng.
Biến động có chu kì và không có chu kì
Biến động theo chu kì có xu hướng lặp theo mùa, năm hoặc chu kì khác. Muốn nhận biết chu kì, cần so khoảng cách giữa các đỉnh hoặc đáy trên một chuỗi đủ dài.
| Đỉnh quan sát | Thời điểm (giờ) |
|---|---:|
| 1 | 1.920 |
| 2 | 3.360 |
| 3 | 4.800 |
Hai khoảng đỉnh liên tiếp đều bằng $3360-1920=4800-3360=1440$ giờ, nên chu kì quan sát là 1.440 giờ. Nếu số liệu được lấy mỗi 480 giờ thì **480 giờ là bước lấy mẫu**, không phải chu kì.
Một lần tăng rồi giảm chưa chứng minh có chu kì. Biến động không theo chu kì có thể gắn với cháy bất thường hoặc biến cố đột ngột; khi có nhiều loài, cần thêm dữ kiện trước khi quy toàn bộ biến động cho một nguyên nhân.
Tỉ lệ tăng giảm nhưng tổng số vẫn tăng
Một ví dụ dân số giả định: đầu năm có 1.000.000 người, cuối năm tăng 1%, tức thêm 10.000. Năm sau tính từ 1.010.000 người và tăng 0,8%, tức thêm 8.080 người.
Tỉ lệ tăng đã giảm từ 1% xuống 0,8%, nhưng tổng số vẫn tăng vì tỉ lệ còn dương. Khi đọc dữ liệu dân số, ta tách quy mô, số tăng thêm và tỉ lệ tăng; nếu là dự báo thì cần ghi rõ dự báo, không xem như số đã quan sát.
Quy mô và cơ cấu dân số liên quan nhu cầu về nguồn sống, hạ tầng và dịch vụ. Tác động môi trường còn phụ thuộc mức tiêu dùng, công nghệ và cách quản lí, không chỉ số người.
Phân biệt tỉ lệ tăng và kích thước
Tỉ lệ tăng của một quần thể giảm từ 2% xuống 1% mỗi kì nhưng vẫn dương. Chỉ từ thông tin này, kết luận nào đúng?
Tỉ lệ vẫn dương nên kích thước tiếp tục tăng trong từng kì đang xét.
Đúng. Phần trăm thấp hơn không tự cho số tăng tuyệt đối nếu chưa biết quy mô.
Số tăng tuyệt đối bằng tỉ lệ nhân quy mô đầu kì, nên chưa chắc giảm một nửa.
Tỉ lệ giảm riêng nó chưa chứng minh quần thể đã ở đúng K.
Lời giải
Cả $2\%$ và $1\%$ đều dương nên quần thể vẫn tăng. Số cá thể tăng thêm bằng tỉ lệ nhân kích thước đầu kì, vì vậy cần biết quy mô để so mức tăng tuyệt đối. Chọn B.
Dùng kiến thức quần thể trong thực tiễn
Trồng hoặc nuôi với mật độ phù hợp giúp hạn chế cạnh tranh quá mức. Khai thác sinh vật cần tính khả năng bổ sung và dữ liệu riêng của loài, nơi sống.
Trong một mô hình bài tập, quần thể đầu kì có 600 cá thể, sinh 180, chết 90, không di cư và bị khai thác $H$ cá thể. Yêu cầu cuối kì không dưới 600 cho:
$$600+180-90-H\ge 600\Rightarrow H\le 90.$$
Kết quả 90 chỉ đúng với số sinh, chết cố định trong mô hình; không phải định mức khai thác ngoài thực tế.
Cân đối số lượng rồi giải thích cơ chế
Tính đủ sinh, chết và di cư; đọc đúng trục đồ thị; phân biệt quy mô với tỉ lệ tăng. Nguồn sống và phản hồi theo mật độ giúp giải thích tăng trưởng và điều hòa.
Đang học