Vị trí trên X hay Y làm kết quả lai thay đổi
Một gene nằm trên NST giới tính có thể được truyền khác với gene trên NST thường. Chìa khóa vẫn là cách lập giao tử quen thuộc: ta ghi allele đi cùng NST nào rồi theo dõi NST đó từ bố mẹ sang con.
Không phải loài nào cũng có hệ XX – XY
| Hệ giới tính | Giới đồng giao tử | Giới dị giao tử | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| XX–XY | Cái XX | Đực XY | Người, ruồi giấm |
| XX–X0 | Cái XX | Đực X0 | Một số côn trùng |
| ZZ–ZW | Đực ZZ | Cái ZW | Chim, tằm |
Trong hệ ZZ–ZW, con cái tạo trứng Z hoặc W, còn con đực chỉ tạo tinh trùng Z. Vì vậy phải lập giao tử theo hệ của loài, không đổi máy móc X thành Z.
Lập giao tử trong hệ ZZ–ZW
Ở tằm, con đực là ZZ và con cái là ZW. Giả sử gene màu trứng nằm trên Z, A trội hoàn toàn so với a. Phép lai ♂ $Z^AZ^a$ × ♀ $Z^aW$ cho:
| Giao tử bố | Giao tử mẹ | Phôi | Giới tính, kiểu hình |
|---|---|---|---|
| $Z^A$ | $Z^a$ | $Z^AZ^a$ | Đực, trội |
| $Z^a$ | $Z^a$ | $Z^aZ^a$ | Đực, lặn |
| $Z^A$ | $W$ | $Z^AW$ | Cái, trội |
| $Z^a$ | $W$ | $Z^aW$ | Cái, lặn |
Màu trứng trong tình huống này được đọc theo kiểu gene của **phôi**, không theo kiểu hình của cơ thể mẹ đẻ trứng.
Gene trên vùng không tương đồng của X
X và Y có vùng tương đồng và vùng không tương đồng. Ta xét một gene trên X không có allele tương ứng trên Y. Quy ước allele A trội hoàn toàn so với a.
Con cái có thể mang XᴬXᴬ, XᴬXᵃ hoặc XᵃXᵃ. Con đực có XᴬY hoặc XᵃY; chỉ một allele a trên X đã đủ biểu hiện tính trạng lặn ở con đực theo mô hình này.
Bố truyền X cho con gái, Y cho con trai. Vì vậy, allele trên X của bố không đi trực tiếp từ bố sang con trai. Mẹ truyền một trong hai X cho cả con trai lẫn con gái. Đường truyền này giúp giải thích vì sao phép lai thuận và nghịch có thể cho kết quả khác nhau.
Phép lai XᴬXᵃ × XᴬY
Mẹ cho hai loại giao tử Xᴬ, Xᵃ, mỗi loại 1/2. Bố cho Xᴬ và Y, mỗi loại 1/2. Giả sử thụ tinh ngẫu nhiên và sức sống các nhóm như nhau.
| Giao tử mẹ | Giao tử bố | Con | Xác suất trong toàn bộ con |
|---|---|---|---|
| Xᴬ | Xᴬ | XᴬXᴬ, cái, tính trạng trội | 1/4 |
| Xᵃ | Xᴬ | XᴬXᵃ, cái, tính trạng trội | 1/4 |
| Xᴬ | Y | XᴬY, đực, tính trạng trội | 1/4 |
| Xᵃ | Y | XᵃY, đực, tính trạng lặn | 1/4 |
Trong **toàn bộ đời con**, xác suất con đực có tính trạng lặn là 1/4. Nếu đã biết cá thể được chọn là **con đực**, một nửa số con đực có tính trạng lặn, nên xác suất là 1/2. Hai đáp số trả lời hai câu hỏi khác nhau.
Đổi mẫu số trước khi tính tần số hoán vị
Trong một phép lai ở hệ XX–XY, hai gene đang xét nằm trên vùng không tương đồng của X; mẹ dị hợp hai locus và đã biết pha liên kết. Kiểu hình con đực phản ánh allele trên X nhận từ mẹ. Các nhóm có sức sống như nhau và không có tác động làm lệch tỉ lệ.
Hai kiểu hình hoán vị ở con đực lần lượt chiếm 5% và 5% **toàn bộ đời con**. Nếu con đực chiếm 50% đời con thì:
$$f=\frac{5\%+5\%}{50\%}=20\%.$$
Vậy tần số hoán vị trong giao tử của mẹ là 20%. Không cộng 5% + 5% rồi kết luận $f=10\%$, vì tử số dùng toàn bộ con còn đại lượng cần tìm được suy từ riêng nhóm con đực.
Lập phép lai gene trên X
Gene nằm trên vùng không tương đồng của X, A trội hoàn toàn so với a. Kết quả của phép lai $X^aX^a × X^AY$ là gì?
Đúng. Con gái nhận $X^A$ của bố; con trai nhận Y của bố và $X^a$ của mẹ.
Con trai chỉ nhận $X^a$ từ mẹ nên đều biểu hiện tính trạng lặn.
Con gái nhận $X^A$ từ bố nên đều có kiểu hình trội.
Mẹ chỉ tạo một loại trứng $X^a$ và bố quyết định hai nhánh giới tính nêu trên.
Lời giải
Mẹ chỉ cho $X^a$; bố cho $X^A$ hoặc Y. Con gái đều $X^AX^a$, biểu hiện trội; con trai đều $X^aY$, biểu hiện lặn. Chọn A.
Gene trên vùng không tương đồng của Y
Trong hệ XX – XY đang xét, một gene ở vùng không tương đồng của Y đi từ bố sang con trai, không sang con gái. Nếu allele quy định tính trạng biểu hiện đầy đủ và không có yếu tố khác làm thay đổi kết quả, các con trai nhận Y đó sẽ biểu hiện tính trạng.
Cần phân biệt **gene nằm trên NST giới tính** với **tính trạng chỉ biểu hiện ở một giới**. Một gene trên NST thường vẫn có thể chỉ biểu hiện ở một giới do điều kiện sinh lí. Vì thế, chỉ thấy tính trạng ở con đực chưa đủ để kết luận gene nằm trên Y.
Nhận diện di truyền liên kết Y
Một tính trạng chỉ xuất hiện ở các cá thể đực trong mẫu quan sát. Nhận định nào đúng?
Biểu hiện chỉ ở giới đực còn có thể do tính trạng bị giới hạn bởi giới; mẹ không truyền Y.
Đúng. Dấu hiệu quan sát chưa đủ xác định vị trí gene; Y của bố chỉ truyền cho con trai.
Chưa có dữ kiện để khẳng định gene nằm trên X.
Con gái nhận X của bố, không nhận NST Y trong hệ XX–XY.
Lời giải
Chỉ biểu hiện ở con đực chưa chứng minh gene nằm trên Y. Khi đã xác định gene ở vùng không tương đồng của Y, gene được truyền từ bố sang con trai. Chọn B.
Giữ NST trong sơ đồ lai
Với gene liên kết giới tính, viết allele kèm X hoặc Y để tránh nhầm đường truyền. Đọc rõ đề hỏi trong một giới hay toàn bộ đời con. Trong kho ôn, chọn chủ đề con Di truyền liên kết giới tính và ngoài nhân để luyện tiếp.
Đang học