btvn.vn

Đặc trưng của quần xã

Lưu trên thiết bị này
Quần xã và hệ sinh thái · Chọn bài khác

Một ao có nhiều quần thể

Khi chỉ xét cá rô cùng loài trong một ao, ta đang xét một quần thể. Khi xét cả các quần thể cá, tảo, thực vật thủy sinh và vi sinh vật có quan hệ với nhau trong ao, ta chuyển sang cấp quần xã.

Quần xã được hình thành từ nhiều loài

Quần xã là tập hợp các quần thể khác loài cùng sống trong một không gian và thời gian xác định, có quan hệ với nhau. Thành phần loài và các quan hệ ấy tạo nên đặc trưng của quần xã. Danh sách các sinh vật được gom từ nhiều nơi chỉ để trưng bày không tự trở thành một quần xã tự nhiên.

Số loài và số cá thể mỗi loài

Khi mô tả thành phần loài, ta xét mức phong phú về số loài và mức đồng đều về số lượng cá thể giữa các loài. Hai mẫu có cùng số loài vẫn có thể khác nhiều về sự phân bố cá thể. So sánh cần dựa trên cách khảo sát tương đương; không chỉ so tổng số sinh vật nhìn thấy.

Hai mẫu đều có ba loài

Hai mẫu minh họa được khảo sát theo cùng phương pháp, cùng phạm vi: | Loài | Mẫu A | Mẫu B | |---|---|---| | P | 20 | 54 | | Q | 20 | 3 | | R | 20 | 3 | Mỗi mẫu có 3 loài, tổng 60 cá thể. Mẫu A có tỉ lệ mỗi loài bằng 1/3; mẫu B có loài P chiếm 54/60 = 90%. Như vậy, số loài bằng nhau nhưng mẫu A đồng đều hơn. Theo hai đặc điểm đang xét, A có mức đa dạng cao hơn B. Ta không cần tính một chỉ số đa dạng ngoài yêu cầu đề.

So sánh hai mẫu quần xã

Mẫu X có số cá thể của ba loài lần lượt là 10, 10, 10; mẫu Y là 26, 2, 2. Hai mẫu được khảo sát theo cùng phương pháp và phạm vi. Nhận xét nào đúng?
Chọn một đáp án

Ba cách gọi loài cần phân biệt

**Loài ưu thế** có ảnh hưởng lớn do số lượng, sinh khối hoặc hoạt động nổi bật. Chẳng hạn, nhóm cây gỗ chiếm sinh khối lớn tạo tán và làm thay đổi điều kiện dưới tán. **Loài đặc trưng** là loài tiêu biểu cho một quần xã, có thể chỉ gặp ở đó hoặc nổi bật hơn hẳn khi so với các quần xã khác. Muốn kết luận đặc trưng cần có cơ sở so sánh phạm vi phân bố, không chỉ một bảng đếm tại một nơi. **Loài chủ chốt** có ảnh hưởng lớn tới cấu trúc quần xã so với mức độ hiện diện của nó. Loài này không nhất thiết có nhiều cá thể nhất. Nếu một loài ăn thịt khống chế loài khác và việc mất nó kéo theo biến đổi mạnh nhiều loài, dữ kiện ấy giúp nhận ra vai trò chủ chốt. Các tên gọi nói về những khía cạnh khác nhau. Không dùng “ít cá thể” để loại ngay khả năng một loài là chủ chốt. Nếu loại loài A rồi thấy loài B tăng, thí nghiệm cho thấy A có ảnh hưởng tới B trong điều kiện khảo sát. Riêng kết quả đó chưa xác định duy nhất cơ chế tác động và cũng chưa chứng minh chiều ngược lại B ảnh hưởng A; cần thêm đối chứng hoặc dữ liệu quan hệ.

Phân bố theo chiều đứng và chiều ngang

Trong rừng, cây gỗ cao, cây bụi và cây thân thảo tạo các tầng. Trong nước, sinh vật cũng phân bố theo độ sâu gắn với ánh sáng, oxygen và các điều kiện khác. Đó là phân bố theo chiều thẳng đứng. Từ bờ ra xa hoặc từ vùng đất ẩm sang vùng khô, thành phần sinh vật có thể thay đổi theo chiều ngang. Sự phân bố này gắn với nhu cầu và khả năng chịu đựng của loài, giúp các loài sử dụng những phần khác nhau của không gian và nguồn sống.

Ba nhóm theo chức năng dinh dưỡng

| Nhóm | Vai trò và ví dụ | |---|---| | Sản xuất | Tự tổng hợp chất hữu cơ từ chất vô cơ; cây xanh, tảo quang hợp | | Tiêu thụ | Nhận chất hữu cơ từ sinh vật khác; động vật ăn thực vật hoặc động vật khác | | Phân giải | Phân giải chất hữu cơ trong xác, chất thải, góp phần trả chất vô cơ cho môi trường; nhiều vi khuẩn và nấm | Không phải cứ cơ thể nhỏ là sinh vật phân giải, hoặc mọi vi khuẩn đều có cùng chức năng. Với ví dụ cụ thể, dựa vào cách dinh dưỡng được mô tả. Động vật ăn mùn bã góp phần xử lí vật chất hữu cơ, nhưng cần phân biệt việc ăn, nghiền nhỏ mùn bã với vai trò phân giải của vi sinh vật.

Từ quan sát đến nhận xét

Trong một ghi chép minh họa về vườn trường, nhóm học sinh thấy cây cỏ quang hợp, sâu ăn lá và nấm hoại sinh trên lá mục. Ta có thể xếp lần lượt vào nhóm sản xuất, tiêu thụ và phân giải theo thông tin đã cho. Nếu chỉ ghi “có một đám nấm” mà chưa rõ cách dinh dưỡng, ta chưa đủ cơ sở khẳng định mọi nấm ấy đều hoại sinh. Báo cáo nên ghi địa điểm, thời gian, đối tượng nhận ra, dấu hiệu quan sát và phần chưa xác định. Có thể dùng ảnh hoặc quan sát tại chỗ; không cần lấy mẫu hoặc bắt sinh vật. Một lần khảo sát ngắn cũng không đủ để tuyên bố đã thống kê toàn bộ loài trong vườn.

Nhận biết vai trò loài chủ chốt

Một loài có ít cá thể trong khu khảo sát. Khi loài đó biến mất, một loài khác tăng mạnh và nhiều loài còn lại suy giảm. Kết luận nào phù hợp nhất?
Chọn một đáp án

Lập bảng báo cáo quần xã quanh trường học

Có thể chọn một khoảng vườn trường hoặc khu vực được giáo viên hướng dẫn. Trước khi quan sát, cần ghi địa điểm, thời gian, phạm vi khảo sát và một số đặc điểm như ánh sáng, độ ẩm, dấu hiệu chăm sóc của con người. Chỉ quan sát tại chỗ, chụp ảnh nếu phù hợp; không cần bắt sinh vật hoặc lấy mẫu. Bảng dưới đây viết lại ghi chép minh họa ở ví dụ trước, không phải số liệu khảo sát thật: | Đối tượng ghi nhận | Căn cứ về cách dinh dưỡng | Nhóm chức năng | |---|---|---| | Cây cỏ xanh | Quang hợp tạo chất hữu cơ | Sản xuất | | Sâu đang ăn lá | Quan sát thấy ăn mô lá | Tiêu thụ | | Nấm hoại sinh trên lá mục | Ví dụ đã cho biết cách dinh dưỡng hoại sinh | Phân giải | Trong bảng kết quả, có thể dùng tên thông thường khi chưa biết tên khoa học; mục chưa nhận diện được ghi rõ là chưa xác định. Không gán chức năng chỉ theo hình dáng hoặc kích thước. Nếu phân biệt được sâu non và con trưởng thành, cần ghi riêng giai đoạn vì thức ăn có thể khác nhau. Cuối báo cáo, tóm tắt các nhóm đã nhận ra, sự phân bố quan sát được và điều còn cần tìm hiểu. Chẳng hạn, bảng minh họa ghi nhận đủ ba nhóm chức năng; chưa đủ để kết luận đã thống kê mọi loài, xác định loài chủ chốt hay đánh giá toàn bộ độ đa dạng của vườn.

Nhìn cả thành phần và quan hệ

Mô tả quần xã qua số loài, mức đồng đều, các loài có vai trò nổi bật, phân bố không gian và chức năng dinh dưỡng. Khi làm câu ôn, đọc đúng tiêu chí mà đề cung cấp rồi mới gọi tên đặc trưng.

Đang học