btvn.vn

Cân bằng Hardy–Weinberg

Lưu trên thiết bị này
Di truyền quần thể, người và chọn giống · Chọn bài khác

Biết p và q, dự đoán thế hệ sau thế nào?

Nếu giao tử A chiếm p và giao tử a chiếm q ở cả hai bên, sự kết hợp ngẫu nhiên tạo ra AA, Aa và aa với những xác suất xác định. Công thức cân bằng xuất phát từ bảng giao tử này, không phải một quy tắc cần học thuộc mà không biết lí do.

Hai đường tạo ra kiểu gene dị hợp

Xét gene trên NST thường, hai giới có cùng tần số allele trong giao tử và thụ tinh ngẫu nhiên. | Giao tử 1 | Giao tử 2 | Hợp tử | Xác suất | |---|---|---|---:| | A ($p$) | A ($p$) | AA | $p^2$ | | A ($p$) | a ($q$) | Aa | $pq$ | | a ($q$) | A ($p$) | Aa | $pq$ | | a ($q$) | a ($q$) | aa | $q^2$ | Hai đường tạo Aa cho $2pq$, nên thành phần cân bằng là $$p^2AA+2pqAa+q^2aa=1,\qquad p+q=1.$$ Nếu các điều kiện của mô hình tiếp tục được duy trì, tần số allele và thành phần kiểu gene này ổn định qua các thế hệ.

Điều kiện để duy trì cân bằng

Theo mô hình Hardy–Weinberg, quần thể ngẫu phối, có kích thước đủ lớn để bỏ qua biến động ngẫu nhiên; không có chọn lọc, đột biến và di–nhập gene làm thay đổi tần số ở locus đang xét. Trong bài toán một gene trên NST thường với tần số allele ở hai bên giao tử như nhau, một lần kết hợp ngẫu nhiên đưa hợp tử về dạng p² : 2pq : q². Quần thể ban đầu có thể chưa có dạng ấy. Nếu đề cho sức sống khác nhau giữa các kiểu gene, thành phần sau giai đoạn sống sót có thể khác thành phần hợp tử vừa tạo. Ngẫu phối không có nghĩa mọi allele đều có tần số 1/2. p có thể là 0,8 và q là 0,2; điều cần xét là cách giao tử kết hợp cùng các điều kiện của mô hình.

Kiểm tra rồi dự đoán thế hệ sau

Quần thể ban đầu có 0,50 AA + 0,40 Aa + 0,10 aa = 1. Tần số A là p = 0,50 + 0,20 = 0,70; q = 0,30. Nếu cân bằng, thành phần phải là 0,49 AA + 0,42 Aa + 0,09 aa = 1. Thành phần đề cho khác các giá trị này, nên chưa có dạng cân bằng theo số liệu chính xác của bài. Nếu từ đó quần thể ngẫu phối và thỏa mãn các điều kiện, hợp tử thế hệ sau có thành phần 0,49 : 0,42 : 0,09. Tần số allele vẫn là 0,70 và 0,30, dù tần số kiểu gene đã thay đổi. Với số liệu khảo sát thực tế, chênh lệch nhỏ còn cần đánh giá sai số lấy mẫu; bài tập ở đây coi các tần số đã cho là giá trị chính xác của mô hình.

Kiểm tra dạng cân bằng

Quần thể có thành phần $0{,}36AA+0{,}48Aa+0{,}16aa=1$. Kết luận nào đúng theo số liệu đã cho?
Chọn một đáp án

Từ 9% kiểu hình lặn

Một quần thể cân bằng về gene đang xét, A trội hoàn toàn so với a, tính trạng biểu hiện đúng theo kiểu gene. Có 9% cá thể kiểu hình lặn. Kiểu hình lặn là aa, nên q² = 0,09. Suy ra q = 0,30 và p = 0,70. Tần số AA = 0,49; Aa = 0,42; aa = 0,09. Nhóm mang allele a gồm cả Aa và aa, chiếm 0,42 + 0,09 = 0,51. Không gọi 9% là toàn bộ số cá thể mang a: nhiều cá thể dị hợp cũng mang a nhưng biểu hiện trội.

Đổi mẫu số theo điều kiện

Một quần thể cân bằng có $f(AA)=0{,}49$, $f(Aa)=0{,}42$, $f(aa)=0{,}09$; A trội hoàn toàn. Chọn ngẫu nhiên một cá thể đã biết có kiểu hình trội. Xác suất cá thể đó là Aa bằng bao nhiêu?
Chọn một đáp án

Cân bằng là mốc để đối chiếu

Công thức giúp dự đoán thành phần kiểu gene từ tần số allele, hoặc suy tần số allele khi có thêm dữ kiện kiểu hình và điều kiện phù hợp. Khi quan sát lệch khỏi dự đoán, ta cần xem lại cách giao phối, chọn lọc, di–nhập gene, đột biến, kích thước quần thể hoặc cách lấy mẫu. Một kết quả lệch cân bằng không tự chỉ ra duy nhất nguyên nhân nào. Ngược lại, một locus có dạng cân bằng không chứng minh mọi gene trong quần thể đều không chịu tác động tiến hóa.

Đi từ điều kiện đến công thức

Trước khi dùng căn bậc hai của tỉ lệ lặn, cần kiểm tra điều kiện cân bằng và quan hệ trội. Khi đề cho đủ ba kiểu gene, tính p, q bằng phép đếm rồi so với p², 2pq, q². Trong kho ôn, chọn chủ đề con Tần số allele và cân bằng Hardy–Weinberg.

Đang học