Đọc phần đã biết trong câu hỏi
Cụm “biết rằng” cho ta điều kiện của xác suất cần tính. Chẳng hạn, $P(A\mid B)$ là xác suất của $A$ khi đã biết $B$ xảy ra; mẫu số phải gắn với $B$.
| Tình huống | Công thức |
|---|---|
| Biết $B$ đã xảy ra | $P(A\mid B)=P(A\cap B)/P(B)$, với $P(B)>0$ |
| Cần cả $A$ và $B$ | $P(A\cap B)=P(A)P(B\mid A)$ |
| Chia theo $A$ và $\overline A$ | $P(B)=P(A)P(B\mid A)+P(\overline A)P(B\mid\overline A)$ |
| Biết $B$, hỏi khả năng đến từ $A$ | $P(A\mid B)=\dfrac{P(A)P(B\mid A)}{P(B)}$ |
Các xác suất có điều kiện trong công thức cần mẫu số dương. Nếu $A,B$ độc lập, ta mới thay $P(B\mid A)$ bằng $P(B)$.
Cùng một bảng, hai điều kiện khác nhau
Một khảo sát minh họa ghi nhận 100 học sinh theo hai tiêu chí.
| | Tham gia CLB | Không tham gia CLB | Tổng |
|---|---|---|---|
| Đi xe đạp | 18 | 12 | 30 |
| Không đi xe đạp | 22 | 48 | 70 |
| Tổng | 40 | 60 | 100 |
Chọn ngẫu nhiên một học sinh. Nếu biết học sinh đó tham gia CLB, xác suất đi xe đạp là $18/40=0{,}45$. Nếu biết học sinh đó đi xe đạp, xác suất tham gia CLB lại là $18/30=0{,}6$.
Tử số đều là $18$, nhưng nhóm được xét ở mẫu số thay đổi. Vì thế hai chiều điều kiện thường cho hai kết quả khác nhau.
Chọn đúng tổng ở mẫu số
Dùng bảng trên: biết học sinh không tham gia CLB, tính xác suất học sinh đó đi xe đạp.
Khi đã biết không tham gia CLB, mẫu số chỉ còn $60$ học sinh trong nhóm điều kiện.
Tử và mẫu bị đảo, tạo kết quả lớn hơn $1$.
Phương án dùng đúng dữ kiện, điều kiện và lập luận.
Số $40$ không phải tổng của nhóm không tham gia CLB theo bảng đã cho.
Lời giải
Trong 60 học sinh không tham gia CLB, có 12 học sinh đi xe đạp. Xác suất cần tìm là $12/60=0{,}2$.
Tính toàn phần rồi suy ngược
Một kiện hàng được chọn từ kho A với xác suất $0{,}6$, từ kho B với xác suất $0{,}4$. Tỉ lệ kiện cần đóng gói lại trong hai kho lần lượt là $0{,}1$ và $0{,}2$; coi việc chọn trong từng kho là ngẫu nhiên. Gọi $D$ là biến cố kiện cần đóng gói lại.
Có hai trường hợp rời nhau tạo ra $D$: chọn từ A rồi gặp $D$, hoặc chọn từ B rồi gặp $D$. Do đó
$$P(D)=0{,}6\cdot0{,}1+0{,}4\cdot0{,}2=0{,}14.$$
Biết kiện được chọn cần đóng gói lại, xác suất nó đến từ B là
$$P(B\mid D)=\frac{0{,}4\cdot0{,}2}{0{,}14}=\frac47.$$
Ta chia phần “đến từ B và cần đóng gói lại” cho toàn bộ khả năng “cần đóng gói lại”.
Lấy không hoàn lại
Hộp có 4 viên đỏ và 3 viên xanh. Lấy ngẫu nhiên liên tiếp 2 viên, không hoàn lại. Tính xác suất cả hai đều đỏ.
Không hoàn lại nên sau viên đỏ đầu còn $3$ đỏ trong tổng $6$ viên.
Hai lần lấy nối tiếp trên cùng nhánh phải nhân, không cộng.
Đây là xác suất hai viên xanh, không phải hai viên đỏ.
Phương án dùng đúng dữ kiện, điều kiện và lập luận.
Lời giải
Lần đầu đỏ có xác suất $4/7$. Khi đã lấy một viên đỏ, còn 3 viên đỏ trong 6 viên, nên xác suất lần sau đỏ là $3/6$. Xác suất cần tìm bằng $\frac47\cdot\frac36=\frac27$.
Kiểm tra tính độc lập
Biết $P(A)=0{,}4$, $P(B)=0{,}5$ và $P(A\cap B)=0{,}2$. Hai biến cố có độc lập không? Có xung khắc không?
Phương án dùng đúng dữ kiện, điều kiện và lập luận.
Đẳng thức này là tiêu chuẩn độc lập; xung khắc sẽ có xác suất giao bằng $0$.
Phải so với tích $0{,}4\cdot0{,}5$, không phải tổng.
Giao có xác suất dương nên hai biến cố không xung khắc.
Lời giải
Vì $P(A\cap B)=P(A)P(B)=0{,}2$, hai biến cố độc lập. Chúng không xung khắc vì giao có xác suất dương, nên giao không rỗng.
Tính xác suất toàn phần
Chọn hộp I với xác suất $1/3$, hộp II với xác suất $2/3$, rồi chọn ngẫu nhiên một thẻ. Tỉ lệ thẻ vàng ở hộp I là $3/4$, ở hộp II là $1/4$. Tính xác suất lấy được thẻ vàng.
Hai hộp không được chọn với xác suất bằng nhau; phải dùng trọng số $1/3,2/3$.
Phương án dùng đúng dữ kiện, điều kiện và lập luận.
Phải ghép đúng tỉ lệ vàng với từng xác suất chọn hộp, không nhân hai tổng.
Còn nhánh chọn hộp II rồi lấy vàng, có xác suất $1/6$.
Lời giải
Hai khả năng chọn hộp tạo thành các trường hợp rời nhau và bao hết. Xác suất thẻ vàng là $\frac13\cdot\frac34+\frac23\cdot\frac14=\frac14+\frac16=\frac5{12}$.
Suy ngược về hộp
Vẫn thí nghiệm ở câu trước. Biết đã lấy được thẻ vàng, tính xác suất đã chọn hộp I.
Phương án dùng đúng dữ kiện, điều kiện và lập luận.
Đây là xác suất giao chọn I và vàng; phải chia cho xác suất vàng $5/12$.
Tỉ lệ vàng khác nhau giữa hai hộp nên quan sát màu làm thay đổi xác suất.
Đã đảo tử và mẫu của công thức xác suất có điều kiện.
Lời giải
Xác suất vừa chọn I vừa được vàng là $\frac13\cdot\frac34=\frac14$. Chia cho xác suất được vàng $\frac5{12}$, ta được $P(I\mid\text{vàng})=\frac{1/4}{5/12}=\frac35$.
Vì sao không lấy trung bình hai tỉ lệ?
Một lời giải tính xác suất được thẻ vàng ở câu trên bằng $(3/4+1/4)/2=1/2$. Cách tính này thiếu thông tin nào?
Phương án dùng đúng dữ kiện, điều kiện và lập luận.
Chỉ dùng trung bình cộng khi hai hộp được chọn với trọng số bằng nhau.
Để tính xác suất vàng đã có đủ tỉ lệ vàng; thông tin thiếu trong cách làm là trọng số chọn hộp.
Hai số không bằng nhau; sai sót nằm ở mô hình trọng số, không phải rút gọn.
Lời giải
Cách tính đó ngầm coi hai hộp được chọn với xác suất bằng nhau. Đề cho xác suất chọn hộp I và II lần lượt $1/3$ và $2/3$, nên phải dùng các trọng số này. Kết quả đúng là $5/12$.
Một câu hỏi giúp tránh nhầm
Trước khi tính xác suất có điều kiện, cần xác định rõ những trường hợp đang được giữ lại. Tập trường hợp này quyết định mẫu số trong bảng hoặc các nhánh cần xét trong sơ đồ cây.
Đang học