Hai câu thất kết hợp một cặp lục bát
Song thất lục bát kết hợp cặp câu bảy tiếng với cặp câu sáu và tám tiếng. Dạng điển hình có nhóm 7–7–6–8; bài có thể chia khổ hoặc không. Có biến thể, chẳng hạn mở đầu bằng lục bát hoặc thay đổi số tiếng một số dòng, nên cần quan sát cả bản thay vì chỉ một dòng.
Vần chân ở cuối dòng; vần lưng ở bên trong dòng. Trong dạng điển hình, tiếng cuối câu thất thứ nhất hiệp với tiếng thứ năm câu thất thứ hai; tiếng cuối câu thất thứ hai hiệp với tiếng cuối câu lục; tiếng cuối câu lục hiệp với tiếng thứ sáu câu bát. Tiếng cuối câu bát nối vần với tiếng thứ ba hoặc thứ năm câu thất tiếp. Có trường hợp biến đổi vị trí vần lưng, cần kiểm bản cụ thể.
Thanh bằng (B) gồm ngang, huyền; thanh trắc (T) gồm sắc, hỏi, ngã, nặng. Bảng ghi những vị trí chính của dạng điển hình, không quy định mọi tiếng khác:
| Dòng | Vị trí và thanh chính |
|---|---|
| Thất thứ nhất | Tiếng 5: B; tiếng 7: T |
| Thất thứ hai | Tiếng 3: B; tiếng 5: T; tiếng 7: B |
| Lục | Tiếng 2: B; tiếng 4: T; tiếng 6: B |
| Bát | Tiếng 2: B; tiếng 4: T; tiếng 6: B; tiếng 8: B |
Câu thất thường có thể ngắt 3/4 hoặc 3/2/2; cặp lục bát thường theo nhịp của lục bát. Dấu / dùng chỉ chỗ ngắt khi minh hoạ, không phải dấu có sẵn bắt buộc trong nguyên tác. Cách ngắt cần hợp nghĩa và cảm xúc.
Ví dụ kiểm trực tiếp bốn dòng
Theo “Nỗi niềm chinh phụ”, bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm trong SGK; nguyên tác Đặng Trần Côn. SGK ghi bản dịch thường được gắn với Đoàn Thị Điểm và lưu ý còn ý kiến khác về người dịch:
Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.
Hà lương chia rẽ đường này,
Bên đường trông bóng cờ bay ngùi ngùi.
Phân tích do BTVN biên soạn: đếm lần lượt 7–7–6–8 tiếng. Tiếng **trống** cuối dòng 1 hiệp với **bỗng** ở tiếng 5 dòng 2, là vần trắc có vị trí lưng ở dòng sau. **Tay** cuối dòng 2 nối **này** cuối dòng 3; **này** nối **bay** ở tiếng 6 dòng 4, là vần bằng.
Ở dòng 1, “chen” (tiếng 5, ngang) là B, “trống” (tiếng 7, sắc) là T. Dòng 2 có “rồi” (3, huyền) B, “bỗng” (5, ngã) T, “tay” (7, ngang) B. Lục bát chỉ có cặp 6–8 điển hình, còn đoạn này thêm hai dòng thất với cách nối vần tương ứng.
Củng cố kiến thức
Dãy số tiếng của bốn dòng minh hoạ là gì?
Đó là dạng hai cặp lục bát, không đúng đoạn.
Đúng: đếm từng tiếng được 7,7,6,8.
Hai dòng sau không cùng bảy tiếng.
Hai dòng đầu không tám tiếng.
Lời giải
Đáp án B. Dòng đầu có Tiếng/nhạc/ngựa/lần/chen/tiếng/trống; dòng sau có Giáp/mặt/rồi/phút/bỗng/chia/tay. Hai dòng tiếp lần lượt sáu và tám tiếng. Kết hợp 7–7–6–8 là dấu hiệu điển hình song thất lục bát.
Củng cố kiến thức
Cặp nào minh hoạ vần chân dòng trước nối vần lưng dòng sau trong đoạn?
Hai tiếng không hiệp vần ấy.
Đây không phải cặp nối vần được xét.
Đúng: xác định cả âm và vị trí.
Hai tiếng không hiệp vần, cùng vị trí cuối chưa đủ.
Lời giải
Đáp án C. “Trống” và “bỗng” có phần vần phù hợp và đều mang thanh trắc. Tiếng đầu ở cuối câu thất thứ nhất, tiếng sau ở trong câu thất thứ hai. Phải kiểm cả âm và vị trí, không chỉ thấy hai tiếng đều cuối câu.