Cấu trúc phải phục vụ điều muốn nói
Phân tích câu ở cấu trúc chính, không chỉ đếm mọi cụm chủ–vị xuất hiện. Câu đơn có thể có cụm chủ–vị trong một thành phần được mở rộng; câu ghép có các vế với quan hệ xác định. Chọn kết từ theo ý nghĩa điều kiện, nguyên nhân, tương phản hoặc quan hệ khác của trường hợp cụ thể.
Câu rút gọn lược thành phần có thể khôi phục từ ngữ cảnh; câu đặc biệt không cấu tạo theo mô hình chủ ngữ–vị ngữ, có thể gợi thời gian, nơi, tiếng gọi, cảm xúc. Một mảnh câu do thiếu thành phần cần thiết không tự thành câu đặc biệt có hiệu quả. Nói hoặc viết cần người tiếp nhận hiểu được.
Thêm trạng ngữ, phụ chú hoặc phần mở rộng giúp đưa thông tin vào câu; đổi trật tự có thể đổi trọng tâm. Khi biến đổi phải kiểm nghĩa, quan hệ và độ rõ. Không đặt được vào đâu cũng tạo câu bị động, không nối bằng vì–nên nếu dữ kiện không có quan hệ nguyên nhân.
Với từ Hán Việt, xét cả từ và ngữ cảnh, không gán một nghĩa cho mọi âm giống nhau. Khi dùng tên viết tắt tổ chức, giới thiệu tên phù hợp ở lần đầu nếu người đọc chưa biết; không tự thay chữ. Đặt từ vào câu mới kiểm được nghĩa và sắc thái đang cần.
Ví dụ giữ điều kiện khi viết lại
Ví dụ giả định BTVN:
Câu ban đầu: Nếu thư viện đồng ý, nhóm sẽ trưng bày phiếu đọc vào thứ sáu.
Bản diễn lại phù hợp: Việc trưng bày phiếu đọc vào thứ sáu còn phụ thuộc sự đồng ý của thư viện. Câu đổi cấu trúc nhưng vẫn giữ việc chưa được xác nhận.
Bản không phù hợp: Vì thư viện đã đồng ý nên nhóm chắc chắn trưng bày vào thứ sáu. Bản này tự thêm đã đồng ý và đổi điều kiện thành nguyên nhân; không chỉ là đổi kết từ.
Câu mở rộng giả định: Vào thứ sáu, nhóm lớp 9A sẽ trưng bày những phiếu đọc mà các thành viên đã hoàn thiện. Trạng ngữ thời gian và phần bổ nghĩa làm thông tin rõ hơn. Cần hiểu câu này trong tình huống khác đã đủ điều kiện, không dùng nó thay câu ban đầu nếu sự đồng ý chưa có.
Củng cố kiến thức
Câu Nếu thư viện đồng ý, nhóm sẽ trưng bày nói quan hệ nào?
Nếu không khẳng định điều kiện đã xảy ra.
Không có ý tương phản ấy.
Đúng: vế đầu đặt điều kiện cho vế sau.
Không được suy ngược sự đồng ý từ dự định.
Lời giải
Đáp án C. Nếu đặt một điều kiện, sẽ nêu việc dự định khi điều kiện được đáp ứng. Nhận đúng quan hệ giúp tránh diễn lại thành sự kiện đã xác nhận hoặc thay kết từ theo hình thức mà làm sai nội dung.
Củng cố kiến thức
Câu Tôi biết Minh đã đến có một cụm chủ–vị bên trong phần nêu điều biết. Theo cách phân tích đã học, nên làm gì?
Đúng: xét vị trí và cấu trúc chính.
Cụm bên trong thành phần khác với vế câu ghép.
Tên riêng không quyết định câu đặc biệt.
Cần phân tích câu được cho, không xoá dữ kiện.
Lời giải
Đáp án A. Chủ ngữ chính là Tôi, vị ngữ nêu biết điều gì; Minh đã đến là nội dung nằm trong phần được mở rộng. Theo cách tiếp cận trong bài học, đây là câu đơn có cấu trúc mở rộng, không phân loại ghép chỉ bằng số cụm chủ–vị.
Củng cố kiến thức
Đồng trong đồng dao và đồng âm được phân biệt thế nào?
Nghĩa ấy không phù hợp các từ đang xét.
Không suy một nghĩa từ sự giống âm.
Đã đảo nghĩa hai trường hợp.
Đúng: xét cả từ và tra yếu tố phù hợp.
Lời giải
Đáp án D. Một âm Hán Việt có thể ứng các yếu tố khác nhau. Đồng dao là lời ca gắn với trẻ, còn đồng âm là giống về âm; không được lấy một nghĩa quen khác áp cả hai trường hợp.
Củng cố kiến thức
Viết báo cáo cho người chưa biết UNICEF, cách dùng nào rõ hơn?
Không tự đổi tên viết tắt đã được dùng.
Đúng: cho người đọc điểm tựa ở lần đầu.
Không phù hợp đối tượng chưa biết tên.
Các tổ chức có tên và phạm vi khác nhau.
Lời giải
Đáp án B. Tên đầy đủ bằng tiếng Việt giúp nhận đối tượng; viết tắt trong ngoặc giúp hiểu các lần dùng sau. Cần dùng đúng tên hiện được xác định, không tự tạo hoặc nhập các tổ chức khác nhau làm một.