Từ tài xây dựng nhân vật đến ý nghĩa nhân văn
**Một nét nổi bật trong sáng tác của Nam Cao** là đoạn trích bài nghiên cứu của **Nguyễn Văn Hạnh**; tên văn bản do người biên soạn SGK đặt. Đây là nghị luận văn học, không phải một truyện của Nam Cao.
Bài tập trung vào sở trường xây dựng nhân vật. Từ khả năng miêu tả ngoại hình, khắc hoạ tính cách, phân tích nội tâm, người viết đi vào thế giới những con người nghèo khổ, bất hạnh, rồi lí giải cách nhìn đời và tấm lòng của nhà văn.
Người viết không chỉ chia nhân vật theo nghề nghiệp hay thành phần xã hội. Ông nhấn vào những số phận, những đau khổ và câu hỏi về giá trị làm người. Qua họ, người đọc hiểu xã hội và đồng cảm với con người.
Tên tác phẩm, nhân vật được dẫn nhằm làm rõ các nhận định. Cần đọc chúng cùng ý kiến gần đó: tác giả dùng ví dụ này để chứng minh điều gì? Cuối bài, kết luận về tác động nhân ái được chuẩn bị từ những phân tích trước, không phải một lời khen đặt riêng.
Theo một quan hệ giữa ý kiến và bằng chứng
Diễn giải theo văn bản trong SGK, do BTVN biên soạn:
**Ý kiến:** Nam Cao chú ý những con người có ý thức về thân phận, băn khoăn về ý nghĩa sống và giá trị con người.
**Bằng chứng:** bài nhắc Điền trong Trăng sáng, Hộ trong Đời thừa, Lộc trong Truyện người hàng xóm, Thứ trong Sống mòn. Các tên được đặt sau nhận xét, giúp cho thấy nhận xét có điểm tựa ở sáng tác.
**Lí giải được triển khai tiếp:** qua thế giới nhân vật, người đọc nhận ra cách quan sát đời sống và tấm lòng nhà văn. Giọng trữ tình kín đáo nghĩa là tình cảm xót thương, trân trọng thấm trong cách viết, không chỉ xuất hiện ở những lời bộc lộ trực tiếp. Nhân vật sinh động cùng giọng ấy tạo nên sức hấp dẫn và chiều sâu.
**Kết luận:** những số phận đau khổ được nhìn bằng sự thấu hiểu có thể khiến người đọc muốn sống chu đáo, nhân ái hơn. Kết luận gắn với cả đối tượng được miêu tả lẫn cách nhà văn nhìn họ.
Đọc bài nghị luận cần nhận ra quan hệ trên, không biến việc nhớ tên các truyện được nhắc thành hiểu toàn bộ các truyện ấy.
Củng cố kiến thức
Trong ví dụ, Điền, Hộ, Lộc, Thứ được nhắc để làm sáng tỏ nhận định nào?
Bài không đồng nhất nhân vật về nghề nghiệp.
Nội tâm là một phương diện quan trọng được nhấn.
Điều này trái với nhận định mà bằng chứng phục vụ.
Đúng: bằng chứng được gắn với ý kiến vừa nêu.
Lời giải
Đáp án D. Các nhân vật được dẫn sau nhận xét về những con người có học vấn và ý thức về thân phận. Vì vậy, chức năng của chúng là minh hoạ, củng cố nhận định ấy. Phải đọc tên riêng trong quan hệ với lập luận, không chỉ ghi một danh sách.
Củng cố kiến thức
Vì sao kết luận về tác động nhân ái không phải lời khen tách rời?
Nhan đề định hướng, không thay lập luận.
Đúng: kết luận được chuẩn bị từ các ý đã triển khai.
Số tên không tự bảo đảm quan hệ chứng minh.
Tiếp nhận có thể khác nhau; ở đây xét căn cứ của kết luận.
Lời giải
Đáp án B. Một phía là những con người đau khổ, phía kia là cách nhìn thấu hiểu và giọng văn giàu tình cảm. Bài cho thấy hai phía gắn với nhau, nên có cơ sở để nói về tác động khiến người đọc quan tâm con người hơn. Kết luận vì thế nối với hệ thống lập luận.