Điều kiện được đáp ứng nhưng công việc vẫn chưa bắt đầu
“Giá không có ruồi!” là truyện của A-dít Nê-xin, nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ; bản trích trong SGK do Thái Hà dịch. Người kể dùng ngôi thứ ba, gọi nhân vật là “hắn”, “nó”; những lời xưng “tôi” là lời nhân vật được dẫn lại.
Nhân vật nhiều lần nói sẽ làm nên việc nếu có đủ điều kiện. Nhưng khi một điều kiện được đáp ứng, anh ta lại đưa ra một điều kiện khác và tiếp tục không bắt tay vào công việc.
Khi đọc, đặt từng lời hứa cạnh việc xảy ra sau đó. Chuỗi lặp sẽ làm rõ tính cách hơn việc chỉ tách một lời than phiền khỏi cả câu chuyện.
Từ đồ dùng, căn phòng đến những con ruồi
Phân tích do BTVN biên soạn theo bản trích trong SGK.
Thuở đi học, nhân vật viện lí do thiếu đồ dùng; có đồ dùng lại muốn có quần áo, chỗ học tốt hơn. Lớn lên, anh tiếp tục đòi tiền, việc làm, nhà cửa và nhiều điều khác. Những điều ấy lần lượt có, nhưng công việc định làm vẫn bị hoãn.
Đến khi đã có sự sung túc, không gian yên tĩnh và đồ đạc như mong muốn, anh lại quy việc chưa viết được cho ruồi. Chi tiết nhỏ ở cuối đối lập với bao điều kiện lớn đã được đáp ứng, khiến cách đổ lỗi trở nên lố bịch.
Người kể làm như vẫn hi vọng khi không còn ruồi thì nhân vật sẽ làm được việc. Đặt lời hi vọng ấy trong cả chuỗi trì hoãn, có thể nhận ra giọng mỉa mai: nguyên nhân không nằm ở việc thiếu thêm một tiện nghi mà ở thói cứ tìm cớ để chưa làm.
Truyện phê phán việc viện cớ, đổ lỗi kéo dài. Ý nghĩa ấy không phủ nhận những khó khăn thực sự; căn cứ ở đây là nhân vật liên tục được đáp ứng mà vẫn đổi sang lí do mới.
Củng cố kiến thức
Chi tiết nào là căn cứ rõ nhất để nhận xét nhân vật có thói viện cớ?
Một khó khăn riêng chưa đủ làm căn cứ cho cả tính cách.
Đúng: sự lặp lại sau mỗi lần được đáp ứng bộc lộ thói quen.
Mong yên tĩnh tự nó không đáng chê; cần xét cách nhân vật tiếp tục trì hoãn.
Mong học giỏi hoặc viết văn tự nó chưa làm rõ tính viện cớ.
Lời giải
Đáp án B. Nếu chỉ đọc một lời than, có thể chưa biết khó khăn ấy thực sự cản trở thế nào. Nhưng truyện liên tục đặt việc được đáp ứng cạnh một lí do mới và việc chưa làm. Chuỗi hành động cùng hướng cho thấy sự viện cớ đã thành thói quen.
Củng cố kiến thức
Vì sao lời hi vọng ở cuối truyện mang sắc thái mỉa mai?
Bản trích không kể việc hoàn thành tác phẩm ấy.
Lời nhân vật xưng “tôi” không đổi ngôi kể toàn truyện.
Đúng: lời như tin tưởng nhưng trong mạch truyện lại làm nổi sự đáng chê.
Ruồi là cái cớ cuối, không giải thích được cả chuỗi trì hoãn trước đó.
Lời giải
Đáp án C. Trước đó, nhiều điều kiện đã có nhưng nhân vật vẫn không làm. Bởi vậy, lời như chờ đợi thêm một điều kiện không còn là niềm tin đơn thuần; nó làm bật sự vô lí của chuỗi kiếm cớ và giọng mỉa mai đối với thói trì hoãn, đổ lỗi.