Số từ phải được xét trong cách dùng
Số từ biểu thị số lượng hoặc thứ tự của sự vật. Khi chỉ số lượng, số từ thường đứng trước danh từ: “ba cuốn sách”. Khi chỉ thứ tự, thường đi cùng cách diễn đạt thứ tự như “người thứ ba”.
Số lượng có thể xác định như một, hai, ba; cũng có thể ước chừng như vài, mấy, dăm hoặc ba bốn trong cách dùng chỉ khoảng. Không đổi một lượng ước chừng thành số chính xác khi thuật lại thông tin.
Không phải mọi từ vốn gọi một số đều đang làm số từ. Trong “bác Sáu”, Sáu là tên người, không phải số lượng người trong câu. Cần xem chức năng và ngữ cảnh, không chỉ nhìn hình thức từ.
Ví dụ cùng tiếng ba, khác chức năng
Các câu minh hoạ do BTVN biên soạn:
“Mai chọn ba cuốn sách.” Ba chỉ số lượng sách được chọn.
“Mai là người thứ ba trình bày.” Ba nằm trong cách chỉ thứ tự; câu không nói Mai có ba người.
“Mai cần vài ngày để đọc xong.” Vài nêu số ngày ước chừng, không khẳng định chính xác ba hay năm ngày.
“Bác Sáu mang sách đến.” Sáu là tên riêng, cần viết hoa. Không đếm thành sáu người đến chỉ vì gặp tiếng này.
Củng cố kiến thức
Trong câu “Mai là người thứ ba trình bày”, số từ ba chỉ điều gì?
Câu không đếm sách.
Câu không đếm người tên Mai.
Không có thời gian đọc trong câu.
Đúng: Mai ở lượt thứ ba.
Lời giải
Đáp án D. Cách diễn đạt “người thứ ba” xác định vị trí trong một thứ tự. Cần phân biệt với “ba người”, vốn biểu thị số lượng, để hiểu đúng điều câu thông báo.
Củng cố kiến thức
Thuật lại “Mai cần vài ngày để đọc xong” như thế nào để giữ đúng mức chính xác?
Đúng: giữ ý ước chừng của vài.
Nguồn không nêu con số ba.
Câu không có đơn vị tháng.
Câu không nói việc đã hoàn thành trong một ngày.
Lời giải
Đáp án A. “Vài” chỉ một lượng nhỏ ước chừng, không cho phép tự chọn một con số chính xác. Thuật lại thông tin phải giữ sự khác biệt giữa ước lượng và dữ kiện xác định.