Bài hoàn chỉnh cần nối các đoạn cùng làm rõ vấn đề
Với đề tài nhỏ, bài vẫn cần có mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài giới thiệu tác phẩm và phương diện đang bàn; thân bài giải thích nguồn liên tưởng, phân tích cách sử dụng và hiệu quả; kết bài khái quát giá trị trong đúng phạm vi ấy.
Các đoạn không chỉ đặt cạnh nhau. Chẳng hạn, hiểu chuyện Tinh Vệ là cơ sở đọc lời Bích Châu; đọc lời phủ định giúp giải thích tâm trạng; tâm trạng ấy lại gắn với việc nhân vật cầu cứu. Mạch bài phải làm những quan hệ này hiện ra.
Bài dưới đây do BTVN biên soạn, dựa vào đoạn trích “Hải khẩu linh từ” và chú thích SGK. Đối tượng là một cách dùng điển cố, không phải toàn bộ quan hệ ảnh hưởng của tác phẩm.
Bài minh hoạ: chuyện Tinh Vệ trong lời Bích Châu
Trong “Hải khẩu linh từ”, Đoàn Thị Điểm xây dựng Bích Châu như một người phụ nữ có tài, trung nghĩa nhưng chịu cảnh oan khuất. Khi hiện về giãi bày với vua Lê Thánh Tông, nhân vật nhắc tới chuyện Tinh Vệ. Điển cố này cho thấy chất liệu đã có có thể được đặt vào một tình huống mới để làm sâu tâm trạng con người.
Theo chú thích SGK, Tinh Vệ gắn với chuyện cô gái chết đuối, sau hóa chim, mang đá và cành cây lấp biển. Câu chuyện gợi một nỗi uất ức chưa nguôi cùng ý chí không chịu khuất phục. Khi tên gọi xuất hiện, người đọc có thể liên tưởng tới cả một cảnh ngộ và hành động, chứ không chỉ hình dung một loài chim. Đó là cơ sở làm lời văn hàm súc.
Tuy nhiên, Đoàn Thị Điểm không đưa toàn bộ câu chuyện ấy vào tác phẩm như một sự việc lặp lại. Bích Châu nói mình không thể hóa thành chim Tinh Vệ. Cách dùng phủ định tạo nên điểm đáng chú ý: chuyện xưa gợi khả năng phản kháng, còn lời hiện tại làm rõ một người đang uất ức mà chưa tự thoát khỏi tình thế. Nếu kể Bích Châu đã hóa chim, sẽ bỏ mất sự đối chiếu này và làm sai lời nhân vật.
Ngữ cảnh cũng quyết định ý nghĩa của điển cố. Bích Châu từng khuyên vua nghĩ tới dân, tới nước; sau khi hi sinh, nàng lại bị giữ dưới thủy phủ. Lời nhắc Tinh Vệ xuất hiện khi nàng tìm người có thể lắng nghe và giúp giải oan. Vì thế, nỗi đau không phải một cảm xúc mơ hồ. Nó gắn với sự bất công mà nhân vật phải chịu và mong muốn được trả lại phẩm giá.
Đặt chuyện cũ vào lời cầu cứu, tác giả khiến nhân vật vừa mang vẻ trang trọng của văn chương trung đại vừa có tiếng nói riêng. Liên tưởng văn học giúp lời than ngắn mà nặng cảm xúc; lời phủ định lại bộc lộ giới hạn đau đớn trong khả năng tự giải thoát. Hai mặt ấy cùng làm người đọc hiểu vì sao việc vua lắng nghe và can thiệp có ý nghĩa đối với mạch truyện.
Qua trường hợp này, có thể thấy tiếp nhận chất liệu cũ không nhất thiết là kể lại nguyên một cốt truyện. Sáng tạo còn thể hiện ở việc lựa chọn và đặt chất liệu vào ngữ cảnh để tạo sức gợi mới. Điển cố Tinh Vệ góp phần khắc họa nỗi oan, sự uất ức và khát vọng được giải thoát của Bích Châu; giá trị ấy cần được nhận ra từ chính lời nói và tình huống của nhân vật.
Củng cố kiến thức
Đoạn bắt đầu bằng “Tuy nhiên” giữ vai trò gì trong mạch bài?
Đúng: đoạn nối điều đã có với cách sử dụng trong tác phẩm.
Đoạn vẫn tập trung vào điển cố và lời nhân vật.
Bài nhấn mạnh không có cuộc biến hóa như vậy.
Đoạn bổ sung cách dùng riêng, không phủ nhận sức gợi.
Lời giải
Đáp án A. Đoạn trước giải thích nguồn liên tưởng; đoạn này chỉ ra tác giả không kể lại nguyên chuyện cũ mà dùng lời phủ định trong tình huống Bích Châu. Sự chuyển ý làm rõ bước từ tiếp nhận đến tạo ý nghĩa riêng.
Củng cố kiến thức
Kết luận nào đúng với phạm vi bài minh hoạ?
Bài không khảo sát mọi yếu tố của tác phẩm.
Lời phủ định cho thấy không lặp nguyên sự việc.
Đúng: kết luận nối nguồn chất liệu với cách dùng cụ thể.
Còn phải giải thích ngữ cảnh và hiệu quả.
Lời giải
Đáp án C. Bài bàn một phương diện tiếp nhận và sử dụng, không xác định toàn bộ nguồn gốc tác phẩm. Kết luận cần nêu đóng góp của điển cố trong khắc họa nhân vật, vừa với những bằng chứng đã phân tích.