Các đoạn cùng trả lời một câu hỏi
Một báo cáo hoàn chỉnh cần sự liên kết giữa các phần. Đặt vấn đề xác định điều muốn làm sáng tỏ; phần chính trình bày kết quả thành các luận điểm có dẫn liệu; kết luận tổng hợp điều đã chứng minh. Không nên để mỗi đoạn nói một vấn đề rời hoặc kết luận rộng hơn toàn bộ căn cứ.
Ví dụ dưới đây giới hạn ở bản trích Huyện đường trong SGK, tìm hiểu cách lời nhân vật tạo tiếng cười phê phán. Nó không khảo sát các đoàn diễn hoặc toàn bộ tuồng dân gian. Cần theo dõi cách một câu hỏi được trả lời qua ba bước: tự bộc lộ, đối đáp ăn ý, bắt đầu thực hiện.
Bài minh hoạ: Lời nhân vật và tiếng cười trong Huyện đường
Báo cáo ngắn do BTVN biên soạn; dùng để phân tích cách triển khai, không phải bài cần học thuộc.
**Đặt vấn đề.** Huyện đường, trích Nghêu, Sò, Ốc, Hến, dựng một cảnh các nhân vật ở cửa quan bàn việc xử kiện. Báo cáo tìm hiểu lời nhân vật góp phần tạo tiếng cười về sự nhũng nhiễu như thế nào. Phạm vi là bản trích trong SGK Ngữ văn 10, tập một, tr. 132–136, theo bản Hoàng Châu Ký chỉnh lí; cách tìm hiểu là đặt lời tự giới thiệu và đối thoại trong diễn biến của cảnh.
**Lời tự giới thiệu phơi bày tính cách.** Tri huyện tự nêu quyền thế, sự hưởng thụ và cách xét xử phụ thuộc đồng tiền. Điều đáng chú ý là ông ta không thấy xấu hổ mà còn hài lòng, cho nghề quan là thú vị. Địa vị xét xử được đặt cạnh mục đích kiếm lợi, khiến sự trái ngược với chức trách hiện ra rõ. Nhân vật tưởng đang giới thiệu điều đáng tự hào, nhưng người xem lại nhận ra điều đáng phê phán. Tiếng cười được tạo ngay từ cách tự bộc lộ ấy.
**Đối đáp phát triển ý đồ.** Tri huyện muốn để vụ kiện dây dưa vì trùm Sò giàu; đề lại đồng ý và góp lí do để tra cứu. Lời sau không đứng riêng mà hưởng ứng lời trước, làm rõ sự dùng danh nghĩa xử kiện để kiếm chác. Khi đề lại khen cách xử sâu sắc, lời khen tiếp tục phơi ra bản chất tiếp tay, không khiến kế hoạch trở nên đúng đắn. Sự ăn ý cho thấy họ hiểu nhau vì cùng lợi ích.
**Lời nói nối sang bước thực hiện.** Cuối cảnh, lính lệ dẫn người vào và gợi rằng mình phải bẩm mãi quan mới chịu xử. Trùm Sò hứa hậu tạ. Lối kể công hướng tới sự đền đáp, nối cuộc tính kế bên trong với việc làm khó ở cửa vào. Vì thế, sự nhũng nhiễu không chỉ được nói như một ý nghĩ riêng mà hiện lên qua sự phối hợp giữa các vị trí. Tuy nhiên, cảnh chưa diễn hết phiên xử; không thể lấy kết quả toàn tích làm việc đã xảy ra ở đây.
**Kết luận.** Qua tự giới thiệu, đối đáp và bước thực hiện, lời nhân vật vừa khắc hoạ tính cách vừa phát triển hành động. Tiếng cười hướng vào sự lợi dụng chức trách vì lợi riêng và sự tự đắc trước hành vi ấy. Kết quả này thuộc cảnh đang xét; để bàn cách một nghệ sĩ tạo tiếng cười bằng giọng, nét mặt hoặc động tác, cần khảo sát thêm bản diễn tương ứng.
**Tài liệu sử dụng.** SGK Ngữ văn 10, tập một, Kết nối tri thức với cuộc sống, NXB Giáo dục Việt Nam, phần Huyện đường, tr. 132–136. Bản trích ghi nguồn Hoàng Châu Ký chỉnh lí, Nghêu, Sò, Ốc, Hến, 1957, tr. 41–45; đây là thông tin xuất xứ theo SGK.
Củng cố kiến thức
Vì sao ba phần chính của bài không chỉ là kể lại ba sự việc?
Đúng thứ tự vẫn có thể chỉ là tóm tắt, chưa tạo phần phân tích.
Đổi nhan đề không tự làm rõ chức năng lời nhân vật.
Đúng: các phần cùng trả lời câu hỏi nghiên cứu.
Hình thức đề mục và danh mục cần đi cùng cứ liệu, lí giải.
Lời giải
Đáp án C. Mỗi phần đều nêu một kết quả về chức năng lời, dùng chi tiết và giải thích vì sao chi tiết làm rõ tiếng cười. Các kết quả nối từ tính cách tới kế hoạch rồi bước thực hiện. Nhờ vậy toàn bài trả lời một câu hỏi, không chỉ kể lại cảnh theo thứ tự.
Củng cố kiến thức
Giới hạn nào trong kết luận phù hợp với tư liệu bài minh hoạ?
Đúng: kết luận không vượt loại và phạm vi tư liệu.
Bài chưa có tư liệu về mọi đoàn diễn.
Một cảnh chưa đủ đại diện mọi tác phẩm.
Một bản trích không thay toàn bộ dị bản.
Lời giải
Đáp án A. Tư liệu là lời và chỉ dẫn trong một bản trích, đủ để phân tích quan hệ ngôn ngữ với tình thế. Nó chưa cho phép khẳng định giọng hoặc động tác của các nghệ sĩ. Kết luận nêu giới hạn để kết quả đúng với công việc đã thực hiện.