Nước đang sôi nhận năng lượng để làm gì?
Khi nước đã bắt đầu sôi, tiếp tục đun thì nước vẫn nhận năng lượng nhưng nhiệt độ gần như không tăng. Năng lượng nhận được lúc này không mất đi; nó làm thay đổi năng lượng bên trong của nước và giúp các phân tử tách khỏi chất lỏng. Để mô tả sự thay đổi đó, cần dùng khái niệm nội năng.
Nội năng là năng lượng bên trong vật
Các phân tử cấu tạo nên vật chuyển động không ngừng nên có động năng. Chúng tương tác với nhau nên còn có thế năng tương tác. **Nội năng** $U$ của vật là tổng động năng và thế năng của các phân tử cấu tạo nên vật; đơn vị là jun (J).
Cần phân biệt nội năng với động năng chuyển động của cả vật. Một bình khí đặt yên vẫn có nội năng vì các phân tử khí bên trong vẫn chuyển động và tương tác.
Khi nhiệt độ thay đổi, động năng trung bình của các phân tử thay đổi. Khi thể tích hoặc trạng thái của vật thay đổi, khoảng cách giữa các phân tử và thế năng tương tác có thể thay đổi. Vì vậy, nội năng phụ thuộc vào trạng thái của vật. Trong bài toán, thường không cần biết giá trị tuyệt đối của $U$ mà chỉ cần độ biến thiên $\Delta U=U_2-U_1$.
Hai cách làm thay đổi nội năng
Có hai cách truyền năng lượng làm nội năng của vật thay đổi:
- **Thực hiện công:** cọ xát hai vật, nén một khối khí hoặc khuấy chất lỏng. Năng lượng được truyền qua tác dụng lực gây ra chuyển dời.
- **Truyền nhiệt:** đặt vật tiếp xúc với vật có nhiệt độ khác. Năng lượng truyền tự phát từ vật có nhiệt độ cao hơn sang vật có nhiệt độ thấp hơn.
Cọ hai bàn tay làm tay nóng lên chủ yếu do thực hiện công; áp tay vào cốc nước ấm làm tay nóng lên do truyền nhiệt. Kết quả đều có thể là nội năng của bàn tay tăng, nhưng cách truyền năng lượng khác nhau. **Nhiệt lượng** không phải phần năng lượng “chứa sẵn” trong vật; đó là số đo năng lượng được truyền trong quá trình truyền nhiệt.
Định luật I của nhiệt động lực học
Định luật I là định luật bảo toàn năng lượng áp dụng cho quá trình làm thay đổi nội năng. Theo quy ước công mà vật nhận:
$$\Delta U=A+Q.$$
| Trao đổi với hệ đang xét | Dấu |
|---|---|
| Hệ nhận nhiệt | $Q>0$ |
| Hệ truyền nhiệt ra ngoài | $Q<0$ |
| Vật khác thực hiện công lên hệ | $A>0$ |
| Hệ thực hiện công lên vật khác | $A<0$ |
Trước khi thay số, cần xác định rõ **hệ đang xét** là khối khí, chất lỏng hay vật nào; sau đó đọc từng sự trao đổi theo phía của hệ. Nếu tài liệu khác kí hiệu $W$ là công do hệ thực hiện, công thức tương đương là $\Delta U=Q-W$. Không dùng lẫn hai quy ước trong cùng một bài.
Khối khí vừa nhận nhiệt vừa đẩy piston
Một khối khí nhận nhiệt lượng 450 J và giãn nở, đẩy piston nên thực hiện công 170 J. Xét hệ là khối khí.
- Khí nhận nhiệt nên $Q=+450$ J.
- Khí thực hiện công ra ngoài nên $A=-170$ J.
Áp dụng định luật I:
$$\Delta U=A+Q=-170+450=280\ \mathrm J.$$
Nội năng của khí tăng 280 J. Kết quả nhỏ hơn nhiệt lượng khí nhận vì một phần năng lượng đã được khí truyền ra ngoài bằng công.
Áp dụng
Nén khí, ngoại lực thực hiện công 90 J; khí tỏa nhiệt 30 J. Nội năng thay đổi thế nào?
Công nén khí là dương theo quy ước đã chọn.
Nhiệt tỏa ra phải mang dấu âm.
Đúng: nhận 90 J, truyền ra 30 J.
Hiệu năng lượng nhận vào vẫn dương.
Lời giải
Theo quy ước $\Delta U=Q+A$, khí nhận công $A=+90$ J và tỏa nhiệt $Q=-30$ J, nên $\Delta U=-30+90=+60$ J.
Áp dụng
Bình khí cứng được cấp $200$ J nhiệt lượng, bỏ qua mọi trao đổi công khác. Theo quy ước $\Delta U=Q+A$ với $A$ là công tác dụng lên khí, kết luận nào đúng?
Bình cứng không có công giãn nở để triệt nhiệt lượng nhận.
Khí vẫn nhận $200$ J nhiệt nên nội năng tăng.
Đúng. Bình cứng không đổi thể tích nên không có công giãn nở; đề bỏ qua công khác.
Nhiệt lượng cấp không đồng thời là công tác dụng lên khí.
Lời giải
Bình cứng nên $\Delta V=0$; bỏ qua công khác thì $A=0$. Khí nhận $Q=+200$ J, do đó $\Delta U=Q+A=200$ J. Chọn C.
Những điều cần nhớ
Nội năng là tổng động năng và thế năng của các phân tử cấu tạo nên vật. Công và nhiệt lượng mô tả hai cách truyền năng lượng, không phải hai dạng năng lượng chứa trong vật. Khi dùng $\Delta U=A+Q$, luôn chọn hệ trước rồi xác định dấu của $A$ và $Q$ theo phía của hệ.
Đang học