Vì sao âm thanh có chỗ to, chỗ nhỏ?
Khi hai loa giống nhau phát cùng một âm, micro đặt ở những vị trí khác nhau có thể thu được tín hiệu lúc mạnh, lúc yếu. Kết quả này cho thấy hai sóng gặp nhau có thể tăng cường hoặc làm giảm dao động; muốn hình ảnh ấy ổn định, hai nguồn phải có quan hệ pha ổn định.
Điều kiện giao thoa của hai nguồn kết hợp
Khi hai sóng gặp nhau, li độ tại mỗi điểm là kết quả chồng chất hai dao động. Có những vị trí hai sóng tăng cường nhau và những vị trí chúng làm giảm nhau, tạo nên một hệ cực đại–cực tiểu ổn định trong không gian. Hiện tượng đó được gọi là giao thoa sóng.
Muốn hình ảnh giao thoa ổn định, hai nguồn phải có cùng tần số và độ lệch pha không đổi; chúng được gọi là hai nguồn kết hợp. Để cực tiểu triệt tiêu hoàn toàn, hai sóng tới điểm xét còn phải có cùng biên độ. Giao thoa là bằng chứng đặc trưng cho tính chất sóng.
Vì sao phải xét hiệu đường đi?
Hai nguồn cùng pha phát sóng tới $M$ theo hai quãng đường $d_1$ và $d_2$. Sóng đi xa hơn tới muộn hơn, nên độ lệch pha do đường đi là $2\pi(d_2-d_1)/\lambda$. Vì vậy:
- Cực đại khi $\Delta d=k\lambda$.
- Cực tiểu khi $\Delta d=(k+1/2)\lambda$.
Nếu hai nguồn có pha ban đầu khác nhau, phải tính thêm độ lệch pha của nguồn; không dùng ngay hai điều kiện dành cho hai nguồn cùng pha.
Trong thí nghiệm Young với ánh sáng đơn sắc, hai khe cách nhau $a$, màn cách hai khe một khoảng $D$ với $D$ lớn so với $a$. Khoảng vân là:
$$i=\frac{\lambda D}{a}.$$
Vân sáng có $x_k=ki$, vân tối có $x=(k+1/2)i$, tính từ vân sáng trung tâm. Khoảng từ vân thứ nhất đến vân thứ $n$ liên tiếp gồm $n-1$ khoảng vân.
Trên đoạn nối hai nguồn sóng cơ cách nhau $a$, nếu $M$ cách nguồn 1 một đoạn $x$ thì $d_1=x$, $d_2=a-x$. Khi đếm vị trí, cần chọn các số nguyên $k$ cho nghiệm nằm đúng đoạn và đọc rõ có tính hai đầu hay không.
Ví dụ: tính khoảng vân trong thí nghiệm Young
Cho λ = 600 nm, D = 2 m, a = 1 mm. Đổi λ = $6\times10^{-7}$ m, a = $10^{-3}$ m. $i=1{,}2\times10^{-3}$ m = 1,2 mm. Vân sáng bậc 3 ở x = ±3,6 mm; khoảng từ vân sáng thứ nhất tới thứ năm liên tiếp là 4i = 4,8 mm.
Áp dụng
Hai nguồn cùng pha, hiệu đường đi tại M bằng 2λ. M thuộc điều kiện
Cực tiểu ứng với nửa nguyên λ.
Đúng với các điều kiện đã nêu.
Khác đường đi vẫn có thể đến cùng pha.
Hiệu đường đi $2\lambda$ tạo độ lệch pha $4\pi$, tương đương cùng pha.
Lời giải
2λ là bội nguyên bước sóng, nên hai sóng đến M cùng pha và tăng cường.
Áp dụng
Từ vân sáng thứ nhất đến vân sáng thứ sáu liên tiếp đo được $10$ mm. Khoảng vân $i$ là
Đây là cả đoạn từ vân thứ nhất đến thứ sáu, gồm năm khoảng.
Đúng. Sáu vân liên tiếp tạo năm khoảng vân.
Phải đếm khoảng giữa vân, không lấy số vân làm mẫu số.
Đây là kết quả nếu chỉ đếm hai khoảng.
Lời giải
$6$ vân sáng liên tiếp có $5$ khoảng, nên $i=10/5=2$ mm. Chọn B.
Ví dụ: suy bước sóng từ nhiều khoảng vân
Trong thí nghiệm Young, a = 0,50 mm, D = 1,5 m. Từ vân sáng thứ nhất đến vân sáng thứ bảy liên tiếp đo được 10,8 mm. Có 6 khoảng nên i = 10,8/6 = 1,8 mm.
Từ i = λD/a, suy ra λ = ia/D. Đổi i = 1,8 × 10⁻³ m và a = 5,0 × 10⁻⁴ m, được λ = 6,0 × 10⁻⁷ m = 600 nm. Dữ kiện phù hợp ánh sáng nhìn thấy.
Đo qua nhiều khoảng giúp giảm sai số tương đối do đọc hai đầu. Nếu bài hỏi đếm vân trên khoảng tọa độ [x₁,x₂], tìm các k nguyên thỏa x₁ ≤ ki ≤ x₂ cho vân sáng; vân tối dùng (k + 1/2)i. Vân tại biên khoảng chỉ tính nếu đề lấy cả biên.
Những điều cần nhớ
Giữ điều kiện cùng pha khi dùng hiệu đường đi nguyên/nửa nguyên. Đếm khoảng vân riêng với số vân.
Đang học