Vận tốc thay đổi đều thì chuyển động ra sao?
Sau những khoảng thời gian bằng nhau, một xe có thể tăng thêm cùng một lượng vận tốc, còn xe khác giảm đi cùng một lượng. Hai chuyển động đều có gia tốc không đổi nhưng một xe nhanh dần, xe kia chậm dần. Từ đặc điểm này, ta xây dựng các hệ thức của chuyển động thẳng biến đổi đều.
Gia tốc không đổi và vận tốc biến thiên đều
Chuyển động thẳng biến đổi đều là chuyển động thẳng có gia tốc không đổi. Nếu vận tốc và gia tốc cùng dấu thì độ lớn vận tốc tăng đều; nếu trái dấu thì độ lớn vận tốc giảm đều.
Chọn mốc thời gian $t=0$ ở trạng thái đầu. Từ $a=(v-v_0)/t$, suy ra:
$$v=v_0+at.$$
Trên đồ thị vận tốc – thời gian, chuyển động này được biểu diễn bằng một đoạn thẳng; hệ số góc của đoạn thẳng bằng gia tốc.
Từ diện tích đồ thị đến công thức độ dịch chuyển
Độ dịch chuyển trong một khoảng thời gian bằng diện tích có dấu giới hạn bởi đồ thị vận tốc – thời gian và trục thời gian. Khi vận tốc biến thiên đều từ $v_0$ đến $v$, diện tích hình thang cho:
$$d=\frac{v_0+v}{2}t.$$
Thay $v=v_0+at$, ta được:
$$d=v_0t+\frac12at^2.$$
Khử thời gian giữa hai hệ thức trên, thu được:
$$v^2-v_0^2=2ad.$$
Các đại lượng $v_0$, $v$, $a$, $d$ đều mang dấu theo trục đã chọn. Nếu vật đổi chiều trong khoảng xét, phải chia khoảng tại $v=0$ để tính quãng đường.
Chọn công thức và viết tọa độ
Ta ghi rõ trạng thái đầu (v₀, x₀), chiều dương và mốc t = 0 trước khi thay số. d là độ dịch chuyển tính từ trạng thái đầu; tọa độ ở thời điểm t là $x=x_0+d$.
Chọn nhanh công thức khi $a$ không đổi:
| Dữ kiện/cần tìm | Công thức |
|---|---|
| Biết $t$, tìm $v$ | $v=v_0+at$ |
| Biết $t$, tìm $d$ | $d=v_0t+at^2/2$ |
| Không biết $t$, biết hai vận tốc | $v^2-v_0^2=2ad$ |
Ví dụ x₀ = 5 m, v₀ = 2 m/s, a = 1 m/s². Sau 2 s, d = 2 × 2 + 1 × 2²/2 = 6 m, còn x = 5 + 6 = 11 m. Phân biệt tọa độ 11 m với độ dịch chuyển 6 m.
Ví dụ: kiểm dấu trước khi tính quãng đường
Xe có v₀ = 12 m/s, hãm đều a = −3 m/s². Dừng khi $0=12-3t$, nên t = 4 s. Độ dịch chuyển đến dừng $d=12\times4-1{,}5\times16=24$ m. Xe chưa đổi chiều, vì vậy quãng đường hãm bằng 24 m.
Áp dụng
Vật từ nghỉ có a = 2 m/s² trong 5 s. Độ dịch chuyển là
10 m/s là vận tốc cuối, không phải độ dịch chuyển.
Thiếu hệ số 1/2.
Đúng: từ nghỉ và gia tốc không đổi.
Chưa dùng thời gian bình phương.
Lời giải
$d=at^2/2=2\times25/2=25$ m.
Áp dụng
Xe chạy $20$ m/s rồi hãm với gia tốc không đổi $a=-4$ m/s². Sau $2$ s, vận tốc và quãng đường đã đi là bao nhiêu?
Gia tốc âm theo chiều chuyển động ban đầu.
$16$ m/s là tốc độ trung bình trong khoảng này; cần nhân thêm $2$ s để được quãng đường $32$ m.
Đúng. Xe chưa dừng trong $2$ s nên quãng đường bằng độ dịch chuyển.
Không lấy vận tốc ban đầu nhân cả thời gian vì xe đang hãm.
Lời giải
$v=v_0+at=20-4\times2=12$ m/s. $d=v_0t+at^2/2=20\times2-4\times2^2/2=32$ m. Xe vẫn chuyển động cùng chiều, nên quãng đường là $32$ m. Chọn C.
Ví dụ: chia khoảng tại lúc đổi chiều
Một vật có $v_0=-2$ m/s, $a=1$ m/s² không đổi trong 4 s. Thời điểm v = 0 thỏa $-2+t=0$, nên t = 2 s.
Trong 2 s đầu: $d_1=-2\times2+2^2/2=-2$ m. Sau 4 s, độ dịch chuyển cả chặng là $d=-2\times4+4^2/2=0$. Chặng sau có $d_2=d-d_1=2$ m. Quãng đường là $|d_1|+|d_2|=4$ m.
Đây là mô hình gia tốc tiếp tục giữ nguyên sau lúc v = 0. Với xe đang phanh đến dừng, đề thường chỉ cho mô hình đến khi xe dừng; không tự kéo dài để xe chạy lùi.
Những điều cần nhớ
Giữ dấu và phạm vi thời gian mô hình. Chỉ đồng nhất quãng đường với độ lớn d khi không đổi chiều.
Đang học