btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

Trật tự thế giới và xu thế sau năm 1991

Lưu trên thiết bị này
Thế giới từ năm 1991 đến nay · Chọn bài khác

Từ kết thúc hai cực đến tìm kiếm trật tự mới

Trật tự thế giới là cách phân bố, sắp xếp quyền lực trong quan hệ quốc tế. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Trật tự hai cực I-an-ta tồn tại với hai siêu cường Mỹ và Liên Xô giữ vai trò chi phối. Năm **1989**, lãnh đạo Mỹ và Liên Xô tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh. Đến **1991**, Liên Xô tan rã, đánh dấu kết thúc Trật tự hai cực I-an-ta. Hai mốc liên hệ chặt chẽ nhưng nói về hai chuyển biến khác nhau. Hình 18.1 trang 93 SGK ghi cuộc gặp tại Man-ta năm 1989. Khi dùng ảnh mở đầu cho thời kì sau 1991, cần giữ năm của ảnh: nó giúp hiểu bước chuyển trước đó, không phải ảnh cuộc gặp diễn ra năm 1991.

Bài luyện

Cặp mốc và chuyển biến nào đúng?
Chọn một đáp án

Các xu thế vận động gắn bó

Các xu thế vận động gắn bó
Sơ đồ khái quát theo SGK 9, trang 93–94; các ô thể hiện xu hướng, không phải những giai đoạn nối tiếp.
Sau Chiến tranh lạnh, xu hướng đối đầu dần nhường chỗ cho đối thoại, hoà hoãn. Hầu hết các quốc gia điều chỉnh chiến lược, lấy phát triển kinh tế làm trọng tâm và tham gia liên kết khu vực, quốc tế. Theo SGK, hoà bình là xu thế chủ đạo, nhưng nội chiến, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo vẫn xảy ra ở một số khu vực. Vì vậy, tăng hợp tác không có nghĩa mọi bất đồng đã biến mất. Một trật tự mới **đang dần hình thành theo xu hướng đa cực, nhiều trung tâm**, với cạnh tranh giữa Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Liên bang Nga. “Đang hình thành” cho thấy quá trình còn vận động; không coi một sơ đồ khái quát là kết luận quyền lực đã cố định vĩnh viễn.

Bài luyện

Nhận xét nào đúng về xu thế sau Chiến tranh lạnh?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Cách diễn đạt nào giữ đúng tính chất của trật tự mới?
Chọn một đáp án

Tham vọng và thực tế là hai điều khác nhau

Sau khi Liên Xô tan rã, Mỹ tìm cách tận dụng vị thế siêu cường duy nhất để thiết lập trật tự đơn cực do Mỹ chi phối. Tuy nhiên, sự vươn lên của nhiều quốc gia, khu vực làm cho tham vọng ấy gặp cạnh tranh. EU tăng liên kết; Nhật Bản tìm vị thế chính trị tương xứng với sức mạnh kinh tế; Liên bang Nga phục hồi. Trung Quốc phát triển mạnh, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới từ năm 2010 theo nội dung SGK. Hình 18.2 trang 94 là **tranh biếm hoạ** cạnh tranh thương mại Mỹ – Trung Quốc. Hình găng tay và kí hiệu tiền tệ thể hiện ý tưởng cạnh tranh kinh tế; không phải ảnh ghi một trận chiến quân sự giữa hai nước.

Bài luyện

Vì sao không thể coi tham vọng đơn cực của Mỹ là kết quả đã đạt được?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Khi khai thác tranh biếm hoạ thương mại, nhận xét nào phù hợp?
Chọn một đáp án

Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam

Đối thoại và liên kết tạo cơ hội mở rộng thị trường, hợp tác, tiếp cận công nghệ và kinh nghiệm phát triển. Việt Nam có thể tận dụng điều kiện ấy để xây dựng đất nước, nhưng cơ hội cần đi cùng năng lực học hỏi và tổ chức thực hiện. Cạnh tranh giữa các nước lớn, xung đột và vấn đề an ninh đặt ra thách thức giữ môi trường hoà bình, độc lập, chủ quyền. Liên kết kinh tế cũng làm tăng áp lực nâng trình độ công nghệ, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh. Một sơ đồ tư duy có thể gồm ba nhánh: xu thế; các trung tâm; cơ hội và thách thức với Việt Nam. Mỗi nhánh ghi dẫn chứng, nguồn và mốc, rồi giải thích quan hệ. Chẳng hạn, mở thị trường là cơ hội, nhưng để tham gia hiệu quả cần nâng chất lượng sản phẩm; hai ý không loại trừ nhau.

Bài luyện

Cặp cơ hội và thách thức nào có quan hệ hợp lí?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Một sơ đồ tổng hợp chương này nên được tổ chức thế nào?
Chọn một đáp án

Đang học