Thời cơ đến từ tình hình nào?
Ngày 15-8-1945, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã, Chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang. Trong nước, lực lượng cách mạng đã được chuẩn bị qua Việt Minh, lực lượng vũ trang, căn cứ địa và cao trào kháng Nhật. Thời cơ để tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã đến.
**Thời cơ** là tình thế thuận lợi đặc biệt để hành động đạt kết quả. Thuận lợi quốc tế phải kết hợp với lực lượng, tổ chức và quyết định trong nước. Nhật thất bại không tự biến thành độc lập cho Việt Nam; cần chủ động phát động, tổ chức nhân dân giành chính quyền.
Đảng và Tổng bộ Việt Minh theo sát tình hình, dự đoán và quyết định kịp thời. Ngày 13-8, Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập, ban bố **Quân lệnh số 1**, chính thức phát lệnh Tổng khởi nghĩa. Mốc này trước tuyên bố đầu hàng 15-8; không đổi thứ tự để kể cho thuận.
Bài luyện: Điều kiện và sức mạnh
Cách giải thích nào đầy đủ về thời cơ Tổng khởi nghĩa?
Đảo chính tạo biến động lớn, nhưng Đảng phát động cao trào kháng Nhật; thời cơ Tổng khởi nghĩa gắn với Nhật đầu hàng tháng 8 và sự sẵn sàng trong nước.
Đó là hoàn cảnh phong trào dân chủ 1936–1939, không phải thời cơ tháng Tám 1945.
Đúng. Kết hợp thuận lợi khách quan và sự chuẩn bị trong nước.
Cách mạng chủ động giành chính quyền khi Nhật đầu hàng, trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương.
Lời giải
Thời cơ không chỉ là Nhật đầu hàng. Cần có sự suy yếu của đối phương cùng lực lượng cách mạng, quần chúng và sự lãnh đạo đã chuẩn bị để hành động kịp thời.
Bài luyện: Chủ động chớp thời cơ
Sự kiện 13-8-1945 thể hiện điều gì?
Hội nghị này diễn ra ngày 14–15-8; mốc 13-8 gắn với Quân lệnh số 1.
Đúng. Đây là dẫn chứng về hành động chủ động.
Đại hội diễn ra ngày 16–17-8, khác sự kiện ban bố Quân lệnh ngày 13-8.
Mốc của bốn tỉnh lị là 18-8; ngày 13-8 gắn với lệnh phát động Tổng khởi nghĩa.
Lời giải
Ngày 13-8, Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc ban bố Quân lệnh số 1, phát lệnh Tổng khởi nghĩa. Đây là chủ trương lãnh đạo, phải phân biệt với kết quả diễn ra sau tại các địa phương.
Những quyết định tại Tân Trào
Ngày 14 và 15-8, Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào thông qua kế hoạch lãnh đạo tổng khởi nghĩa, quyết định những vấn đề đối nội, đối ngoại sau khi giành chính quyền.
Ngày 16 và 17-8, Đại hội Quốc dân tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách Việt Minh, cử Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Cơ quan này sau trở thành Chính phủ lâm thời.
Hai hội nghị không phải một cuộc họp đổi tên: Hội nghị của Đảng quyết định kế hoạch lãnh đạo; Đại hội Quốc dân thể hiện sự tán thành rộng rãi và chuẩn bị cơ quan nhà nước. Hình 8.3 trang 38 SGK là di tích Đình Tân Trào ngày nay, nơi từng diễn ra Đại hội; ảnh không chụp các đại biểu đang họp năm 1945.
Bài luyện: Phân biệt cuộc họp
Cách ghép nào đúng về những quyết định tại Tân Trào?
Đã đảo ngày: Hội nghị Đảng 14–15, Đại hội Quốc dân 16–17.
Đúng. Cần đọc đúng chủ thể và nội dung của từng cuộc họp.
Uỷ ban do Đại hội Quốc dân cử; Quân lệnh số 1 do Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc ban bố ngày 13-8.
Việt Minh thành lập ngày 19-5-1941; Tuyên ngôn được đọc tại Ba Đình ngày 2-9-1945.
Lời giải
Hội nghị toàn quốc của Đảng thông qua kế hoạch lãnh đạo. Đại hội Quốc dân tán thành chủ trương, thông qua chính sách và cử Uỷ ban Dân tộc giải phóng; không gộp thành một cuộc họp.
Những mốc giành chính quyền
Sơ đồ chọn một số mốc trọng tâm. Khi đọc, nối mỗi ngày với địa điểm, việc diễn ra và kết quả; khoảng cách giữa các ô không theo tỉ lệ thời gian.
| Thời gian 1945 | Sự kiện chính |
| --- | --- |
| 14-8 | Một số cấp bộ Đảng, Việt Minh ở các xã, huyện phát động khởi nghĩa |
| 16-8 | Võ Nguyên Giáp chỉ huy đơn vị Giải phóng quân từ Tân Trào tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên |
| 18-8 | Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam giành chính quyền ở tỉnh lị sớm nhất |
| 19-8 | Hà Nội khởi nghĩa thắng lợi |
| 23-8 | Huế giành chính quyền |
| 24–25-8 | Sài Gòn: tối 24-8 cơ bản thắng lợi; 25-8 chính quyền cách mạng ra mắt |
| 28-8 | Đồng Nai Thượng, Hà Tiên là hai tỉnh cuối cùng giành chính quyền |
Ở Hà Nội, quần chúng cùng sự hỗ trợ của tự vệ chiến đấu chiếm các công sở quan trọng; đến tối 19-8, khởi nghĩa thắng lợi hoàn toàn. Tại Huế, nhân dân biểu tình thị uy, chiếm công sở. Tại Sài Gòn, thắng lợi cơ bản tối 24-8 và cuộc mít tinh ra mắt 25-8 là hai việc cần phân biệt.
Bảng dùng tên các tỉnh, địa điểm năm 1945. Không đổi “Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Nam” thành tên tỉnh, thành phố hiện nay trong hàng sự kiện; địa giới sau sáp nhập không thay quá khứ.
Bài luyện: Đúng phạm vi
Ngày 18-8, bốn tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam đạt kết quả nào theo SGK?
Bốn tỉnh lị thắng ngày 18-8, trước Hà Nội 19-8 và Huế 23-8.
Đúng. Cụm ở tỉnh lị giúp xác định đúng phạm vi.
Uỷ ban Dân tộc giải phóng do Đại hội Quốc dân tại Tân Trào cử; ngày 18-8 nêu thắng lợi tại bốn tỉnh lị.
Những nơi cuối cùng theo SGK là Đồng Nai Thượng và Hà Tiên ngày 28-8; bốn tỉnh lị nêu trong câu hỏi thắng sớm nhất.
Lời giải
SGK xác định bốn tỉnh giành chính quyền ở tỉnh lị sớm nhất ngày 18-8. Không hiểu là bốn nơi duy nhất đấu tranh hoặc tự mở rộng thành hoàn thành mọi nhiệm vụ cả nước.
Bài luyện: Đọc thời gian
Trình tự nào đúng của ba thắng lợi trọng tâm?
Đã đảo mốc Huế và Sài Gòn: Huế 23-8, Sài Gòn 24–25-8.
Không đúng các mốc: Hà Nội 19-8, Huế 23-8, Sài Gòn 24–25-8.
Đúng. Đọc theo thời gian, gắn với địa điểm.
Đã ghép sai ngày với địa điểm: Hà Nội 19-8, Huế 23-8, Sài Gòn 24–25-8.
Lời giải
Ba địa điểm trọng tâm nối tiếp: Hà Nội 19-8, Huế 23-8, Sài Gòn cơ bản thắng tối 24-8 và ra mắt chính quyền 25-8. Tuyên ngôn 2-9 là sự kiện tiếp theo khác tính chất.
Bài luyện: Phân biệt hai việc
Cách trình bày nào chính xác về Sài Gòn?
Quân lệnh số 1 được ban bố ngày 13-8; tối 24-8 tại Sài Gòn khởi nghĩa cơ bản thắng lợi.
Đã đảo nội dung: cơ bản thắng lợi tối 24-8, mít tinh và ra mắt chính quyền ngày 25-8.
Đúng. Cần giữ đủ hai mốc và nội dung.
Đại hội Quốc dân diễn ra tại Tân Trào ngày 16–17-8, không phải sự kiện Sài Gòn ngày 24–25-8.
Lời giải
SGK phân biệt thắng lợi cơ bản tối 24-8 với mít tinh chào mừng, ra mắt chính quyền ngày 25-8. Khi lập bảng cần giữ sự phân biệt này thay vì đổi mọi việc thành một ngày.
Nhận xét sự lãnh đạo và đọc ảnh
Tổng khởi nghĩa diễn ra nhanh chóng, ít đổ máu, dựa chủ yếu vào lực lượng chính trị đông đảo, có lực lượng vũ trang hỗ trợ. Thắng lợi ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn có ý nghĩa quan trọng, cổ vũ đấu tranh ở các địa phương.
Sự nhạy bén thể hiện qua dự đoán, phát lệnh kịp thời, quyết định tại Tân Trào và chỉ đạo linh hoạt ở địa phương. Cần dùng sự kiện cụ thể để chứng minh, không chỉ viết “lãnh đạo sáng suốt” mà không có dẫn chứng.
Mở hình 8.4 trang 38 SGK về mít tinh ở quảng trường Nhà hát Lớn ngày 19-8. Đọc chú thích, quan sát đông đảo quần chúng, nối với diễn biến Hà Nội. Ảnh này khác ảnh Ba Đình 2-9. Khi lập bảng thời gian–sự kiện–ý nghĩa, mỗi dòng chỉ ghi nhận xét phù hợp với sự kiện đó.
Bài luyện: Đánh giá lãnh đạo
Dẫn chứng nào phù hợp khi đánh giá sự kịp thời của Đảng và Việt Minh?
Đó là điều kiện khách quan; để đánh giá sự kịp thời của Đảng và Việt Minh cần dẫn chứng về quyết định và tổ chức hành động.
Sự kiện này gắn với chuẩn bị thành lập Đảng, chưa trực tiếp chứng minh việc chớp thời cơ Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945.
Đúng. Nhận xét được chứng minh bằng hoạt động cụ thể.
Đó là hoạt động ở giai đoạn trước; dẫn chứng về chớp thời cơ tháng Tám cần gắn với quyết định phát động và lãnh đạo Tổng khởi nghĩa.
Lời giải
Quân lệnh, kế hoạch của Hội nghị Đảng, quyết định Đại hội Quốc dân và chỉ đạo địa phương là dẫn chứng cụ thể. Chúng cho thấy sự chủ động chớp thời cơ bằng lực lượng đã chuẩn bị.
Bài luyện: Hai cuộc mít tinh
Hình 8.4 trang 38 SGK gắn với sự kiện nào?
Đó là hình 8.5 trang 39, khác ảnh Nhà hát Lớn.
Đó là tư liệu của phong trào 1918–1930.
Đó là hình 7.4 trang 32, khác sự kiện 1945.
Đúng. Cần đọc đúng chú thích và địa điểm.
Lời giải
Ảnh đông người không thể dùng thay nhau. Hình 8.4 ghi Nhà hát Lớn 19-8; Ba Đình 2-9 là ảnh và sự kiện khác. Chú thích giúp xác định đúng thời gian, địa điểm, nội dung.
Đang học