btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

Nhật Bản: cải cách và sự phát triển thần kì

Lưu trên thiết bị này
Thế giới từ năm 1945 đến năm 1991 · Chọn bài khác

Từ thất bại chiến tranh đến cải cách

Sau thất bại năm 1945, Nhật Bản bị quân đội Mỹ dưới danh nghĩa Đồng minh chiếm đóng đến 1952. Bộ chỉ huy tối cao lực lượng Đồng minh (SCAP) do Mỹ đứng đầu tiến hành cải cách, loại bỏ chủ nghĩa quân phiệt, thiết lập nền dân chủ tư sản đại nghị. Hiến pháp mới được công bố năm 1946. Tư liệu 1 trang 54 SGK nêu Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao, Nội các chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Thiên hoàng có vai trò tượng trưng. Hiến pháp công nhận quyền tự do, dân chủ và từ bỏ chiến tranh. Những thay đổi này khác chế độ quân phiệt trước 1945. Khi đọc tư liệu, tách các ý **tổ chức quyền lực, quyền công dân và vấn đề chiến tranh**. Đoạn trích phản ánh quy định hiến pháp trong bối cảnh lịch sử, không dùng riêng nó để kết luận hiện nay Nhật Bản không có lực lượng phòng vệ.

Bài luyện

Nội dung nào đúng theo tư liệu Hiến pháp mới?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Giai đoạn nào Nhật Bản bị quân đội Mỹ dưới danh nghĩa Đồng minh chiếm đóng theo SGK?
Chọn một đáp án

Quan hệ với Mỹ và mở rộng đối ngoại

Trong giai đoạn chiếm đóng, Nhật Bản lệ thuộc vào Mỹ về chính trị và an ninh. Hiệp ước an ninh Mỹ–Nhật năm 1951 cho phép Mỹ đóng quân, xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ Nhật Bản. Từ 1955 đến 1991, Đảng Dân chủ Tự do (LDP) liên tục cầm quyền theo phạm vi bài học. Nhật Bản tiếp tục liên minh chặt chẽ với Mỹ nhưng dần đa dạng hoá quan hệ đối ngoại để nâng cao vị thế quốc tế. “Đa dạng hoá” là mở rộng quan hệ với nhiều đối tác, không có nghĩa lập tức từ bỏ liên minh Mỹ–Nhật. Cần đặt chính sách trong từng giai đoạn thay vì viết một nhận xét cố định cho toàn bộ thời kì.

Bài luyện

Nhận xét nào đúng về đối ngoại Nhật Bản 1955–1991?
Chọn một đáp án

Tăng trưởng kinh tế thần kì

Sau cải cách 1945–1952, kinh tế Nhật Bản được khôi phục và phát triển nhanh. Những năm 60 đạt tăng trưởng “thần kì”, vươn lên đứng thứ hai sau Mỹ theo mạch SGK; đến đầu những năm 70, Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tế–tài chính của thế giới. SGK nêu trong giai đoạn 1953–1973, tổng sản phẩm quốc dân (GNP) tăng trung bình 9,4%; riêng thập kỉ 60 tăng trung bình 11%. Đây là tốc độ trung bình của những thời đoạn khác nhau, không phải tỉ trọng Nhật Bản trong GDP thế giới hoặc mọi năm đều tăng đúng 11%. Sự phát triển gắn với cải cách, vai trò Nhà nước trong tổ chức và định hướng công nghiệp, sự cần cù, kỉ luật của người lao động và việc tiếp thu khoa học–công nghệ. Bối cảnh quốc tế, trong đó đơn đặt hàng phục vụ các cuộc chiến tranh của Mỹ, cũng tạo điều kiện. Không quy kết quả chỉ do một yếu tố, hoặc dùng thành tựu kinh tế để biện minh chiến tranh.

Bài luyện

Đến đầu những năm 70, Nhật Bản có vị thế nào?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Cách hiểu nào đúng về mức tăng trung bình 11% trong thập kỉ 60?
Chọn một đáp án

Khoa học–công nghệ gắn với đời sống

Nhật Bản coi khoa học–công nghệ là đòn bẩy phát triển. Cùng với khuyến khích phát minh trong nước, Nhật Bản mua bằng sáng chế nước ngoài và tập trung ứng dụng dân dụng. Tiếp thu công nghệ không phải chỉ nhập hàng để tiêu dùng; mục tiêu là nâng năng lực sản xuất, kĩ thuật. Hình 12.5 trang 55 là chuyến tàu siêu tốc đầu tiên ở Nhật Bản năm 1964. Đây là dẫn chứng về kết quả khoa học–công nghệ gắn hạ tầng giao thông và phát triển kinh tế. Ảnh không có nghĩa mọi tuyến đường sắt cùng sử dụng tàu siêu tốc ngay năm ấy. Bảng luyện tập trang 60 gồm chính trị, kinh tế, khoa học–công nghệ. Với mỗi hàng, chọn nét chính và một dẫn chứng. Có thể nối cải cách, định hướng công nghiệp, lao động và ứng dụng công nghệ để giải thích sự phát triển, nhưng vẫn phân biệt chúng với các kết quả như tốc độ tăng trưởng hoặc vị thế trung tâm.

Bài luyện

Hoạt động nào phù hợp với chính sách khoa học–công nghệ Nhật Bản?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Nhận xét nào đúng về hình tàu siêu tốc năm 1964?
Chọn một đáp án

Đang học