Những dấu hiệu khủng hoảng
Từ giữa những năm 70 của thế kỉ XX, kinh tế Liên Xô có dấu hiệu trì trệ. Những khó khăn ấy kéo dài, tác động đến đời sống nhân dân và niềm tin xã hội. Đến đầu những năm 80, Liên Xô lâm vào khủng hoảng chính trị, kinh tế và xã hội.
Khủng hoảng không chỉ thể hiện ở một chỉ tiêu sản xuất. Về kinh tế, hàng hoá thiết yếu thiếu hụt; về xã hội, đời sống suy giảm và bất bình gia tăng; về chính trị, hệ thống lãnh đạo và quản lí gặp khó khăn. Từ năm 1989, nhiều cuộc biểu tình, bãi công diễn ra, cùng với sự kích động của các thế lực thù địch trong và ngoài nước.
Cần phân biệt **biểu hiện** với **nguyên nhân**: thiếu hàng hoá là điều cho thấy khủng hoảng, còn những sai lầm trong đường lối và cách thực hiện cải tổ góp phần giải thích vì sao khủng hoảng sâu sắc thêm.
Bài luyện
Ý nào là biểu hiện khủng hoảng kinh tế Liên Xô cuối những năm 80?
Đây là dấu hiệu tan rã về chính trị và cấu trúc nhà nước, khác biểu hiện thiếu hụt kinh tế.
Đúng. Đây là tình trạng kinh tế mà SGK nêu.
Đây là diễn biến chính trị năm 1991, không phải biểu hiện kinh tế được hỏi.
Đây là biểu hiện trong lĩnh vực văn hoá, tư tưởng, khác tình trạng hàng hoá thiết yếu.
Lời giải
SGK nêu cải tổ kinh tế thiếu đồng bộ, hiệu quả, dẫn tới khủng hoảng trầm trọng những năm 1989–1991, với thiếu hụt hàng thiết yếu. Các thành tựu trước đó cần ghi nhận nhưng không thay biểu hiện khủng hoảng về sau.
Mục đích và cách thực hiện cải tổ
Tháng 3-1985, M. Goóc-ba-chốp được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô; công cuộc **cải tổ** được tiến hành nhằm khắc phục khủng hoảng. Mục đích đặt ra và kết quả thực tế phải được xem xét riêng: muốn khắc phục khó khăn không có nghĩa cách thực hiện đã đạt hiệu quả.
Theo SGK và hướng dẫn tương ứng, cải tổ mắc nhiều sai lầm. Cải tổ kinh tế thiếu đồng bộ, hiệu quả; cải tổ chính trị với khẩu hiệu “dân chủ hoá”, “công khai hoá” xác lập chế độ đa nguyên, đa đảng và hệ thống chính quyền tổng thống. Sự buông lỏng quản lí văn hoá làm gia tăng tư tưởng chống chủ nghĩa xã hội.
Những sai lầm này, cùng khủng hoảng kéo dài và sự chống phá của các thế lực thù địch, làm tình hình ngày càng trầm trọng. Khi giải thích, cần gắn các yếu tố với diễn biến cụ thể, không giản lược thành chỉ vì một cá nhân từ chức vào ngày cuối cùng.
Bài luyện
Công cuộc cải tổ bắt đầu năm 1985 nhằm mục đích gì?
Đúng. Đây là mục đích đặt ra, cần phân biệt với kết quả.
Man-ta diễn ra tháng 12-1989, không phải mục đích trực tiếp khởi đầu cải tổ 1985.
Nhiệm vụ khôi phục đó đã hoàn thành năm 1950.
Liên bang Xô viết thành lập năm 1922.
Lời giải
Cải tổ năm 1985 đặt mục tiêu khắc phục khủng hoảng. Khi đánh giá cần xem cách thực hiện và kết quả; không lấy mục đích tốt làm bằng chứng quá trình đã thành công.
Bài luyện
Nhận xét nào phù hợp khi giải thích thất bại cải tổ theo bài học?
SGK nêu sai lầm trên nhiều lĩnh vực và sự tác động tới tình hình chung.
Đúng. Cần xét những lĩnh vực và quan hệ giữa chúng.
Mục tiêu và kết quả khác nhau; cần xét những sai lầm, hiệu quả thực tế.
Khủng hoảng và cải tổ có trước; từ chức là mốc cuối của quá trình tan rã.
Lời giải
Theo mạch SGK/SGV, khủng hoảng kéo dài và những sai lầm cải tổ trên nhiều lĩnh vực làm tình hình trầm trọng. Không biến thành tựu khoa học trước đó hoặc một sự kiện kết thúc thành nguyên nhân duy nhất.
Những mốc chính dẫn đến tan rã
Tháng 3-1990, Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô lần thứ ba bầu Goóc-ba-chốp làm Tổng thống. Ngày 19-8-1991, một số lãnh đạo Đảng và Nhà nước tiến hành đảo chính nhằm lật đổ ông, nhưng không thành công.
Sau đó, mâu thuẫn chính trị gia tăng. Đảng Cộng sản bị đình chỉ hoạt động, chính quyền Liên bang tê liệt; các nước cộng hoà tuyên bố độc lập, tách khỏi Liên bang. Ngày **25-12-1991**, Goóc-ba-chốp từ chức Tổng thống, đánh dấu sự tan rã của Liên bang Xô viết theo mốc SGK.
Chuỗi này cho thấy sự tan rã là một quá trình, không phải mọi biến đổi chỉ diễn ra trong một ngày. Cũng không gộp nó với Man-ta tháng 12-1989: Man-ta gắn chấm dứt Chiến tranh lạnh, còn các mốc năm 1991 gắn biến đổi chính trị và tan rã Liên bang.
Bài luyện
Trình tự nào đúng?
Thứ tự không theo thời gian, đã đặt sự kiện trước vào sau.
Đã sai mốc từ chức và kết quả đảo chính.
Man-ta là 1989; Liên Xô thành lập 1922, không 1990.
Đúng. Giữ thứ tự và tính chất sự kiện.
Lời giải
Cải tổ bắt đầu 1985; đảo chính 19-8-1991 không thành công; Tổng thống từ chức 25-12-1991. Tóm tắt cần giữ cả thời gian lẫn kết quả, không chỉ sắp những con số.
Bài luyện
Dấu hiệu chính trị nào trực tiếp thể hiện Liên bang tan rã?
Đây là biểu hiện khủng hoảng kinh tế, xã hội; chưa trực tiếp mô tả các nước cộng hoà tách ra.
Đó là mục đích và mốc khởi đầu cải tổ, không phải dấu hiệu cấu trúc Liên bang tan rã.
Đây là sự kiện quan hệ quốc tế năm 1989, khác tan rã nhà nước Liên bang năm 1991.
Đúng. Đây là biến đổi của cấu trúc nhà nước liên bang.
Lời giải
Liên bang là nhà nước gồm các nước cộng hoà. Chính quyền chung tê liệt và các nước cộng hoà tách ra làm đổ vỡ cấu trúc ấy; đây là dấu hiệu trực tiếp khác thiếu hụt hàng hoá hoặc các thành tựu trước đây.
Giải thích mà không lẫn nguyên nhân và kết quả
Một đoạn giải thích có thể nối ba bước: khủng hoảng kéo dài đặt ra yêu cầu cải tổ; cải tổ mắc sai lầm nên không khắc phục được khó khăn; khủng hoảng thêm sâu sắc, cùng sự chống phá, dẫn tới đổ vỡ chính trị và tan rã.
Ngày 25-12 là dẫn chứng về kết quả của quá trình, không đủ thay cho toàn bộ nguyên nhân. Ngược lại, chỉ nêu “kinh tế khó khăn” mà không nói tới cách cải tổ và diễn biến chính trị cũng chưa giải thích đầy đủ.
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô không xoá những thành tựu mà nhân dân Liên Xô từng đạt được. Cần xem xét đúng thời kì, lĩnh vực và chứng cứ, không lấy kết quả cuối cùng để phủ định toàn bộ lịch sử trước đó.
Bài luyện
Đoạn nào phân biệt nguyên nhân và kết quả rõ hơn?
Đã đảo quan hệ được bài giải thích; sai lầm cải tổ góp phần làm khủng hoảng sâu sắc trước tan rã.
Mục đích không bảo đảm thành công; cần phân tích hiệu quả và sai lầm thực hiện.
Đúng. Có quan hệ giải thích và dẫn chứng kết quả.
Một mốc kết thúc chưa giải thích được toàn bộ quá trình đi tới tan rã.
Lời giải
Nguyên nhân giải thích quá trình đi tới tan rã, gồm khủng hoảng và sai lầm cải tổ. Chính quyền chung tê liệt, các nước cộng hoà tách ra và Tổng thống từ chức là những biểu hiện, mốc của kết quả ấy.
Bài luyện
Cách đánh giá nào có căn cứ?
Mỗi quốc gia có bối cảnh, tiến trình riêng; không khái quát vượt chứng cứ.
Đúng. Giữ đúng thời kì và lĩnh vực.
Kết quả chính trị về sau không xoá chứng cứ thành tựu trước đó.
Thành tựu không phủ nhận khó khăn và khủng hoảng về sau.
Lời giải
Đánh giá lịch sử cần giữ cả thành tựu và hạn chế theo thời gian. Sụp đổ là kết quả cần giải thích, không cho phép phủ nhận sự kiện đã có hoặc mở rộng thành cùng một kết quả ở mọi nước.
Đang học