Cộng đồng dân cư đa dạng, cư trú đan xen
Theo SGK, năm **2024** vùng có **12,6 triệu người**, chiếm 12,4% số dân cả nước. Các dân tộc như Kinh, Thái, Mường, Dao, HMông, Tày, Nùng cùng sinh sống; dân tộc thiểu số chiếm hơn 50% số dân toàn vùng.
Địa bàn cư trú có sự đan xen. Người Thái, Mường sống nhiều hơn ở Tây Bắc; người Tày, Nùng sống nhiều hơn ở Đông Bắc. “Nhiều hơn” không có nghĩa chỉ một dân tộc được cư trú ở một phần vùng.
Các cộng đồng có văn hoá, phong tục đa dạng và kinh nghiệm canh tác đất dốc, làm ruộng bậc thang, kết hợp nông nghiệp với lâm nghiệp, chăn nuôi. Khi tìm hiểu văn hoá, cần gắn dẫn chứng với cộng đồng, địa điểm và nguồn cụ thể, tránh gán một nét cho tất cả các dân tộc.
Bài luyện
Nhận xét nào đúng về thành phần dân tộc theo bài?
Đúng. Dân tộc thiểu số chiếm hơn 50% số dân vùng theo SGK; các cộng đồng sinh sống đan xen.
SGK nhấn mạnh sự đa dạng và cư trú đan xen.
Sách nêu người Thái, Mường sống nhiều hơn ở Tây Bắc và không dùng giới hạn “chỉ có”.
Văn hoá và kinh nghiệm đa dạng, không đồng nhất mọi cộng đồng.
Lời giải
Dân tộc thiểu số chiếm hơn 50% số dân vùng theo SGK; các cộng đồng sinh sống đan xen. Những khu vực tập trung nhiều hơn không phải ranh giới cư trú độc quyền.
Bài luyện
12,4% trong thông tin dân số 2024 có mẫu số là gì?
Chỉ tiêu so dân số vùng với số dân cả nước.
Đây là tỉ trọng dân số, không mật độ hoặc tỉ trọng diện tích.
Nông thôn là một bộ phận dân số vùng, không mẫu số của 12,4%.
Đúng. 12,4% là phần dân số vùng trong tổng số dân cả nước năm 2024.
Lời giải
12,4% là phần dân số vùng trong tổng số dân cả nước năm 2024. Giữ đúng đối tượng, mẫu số và năm giúp tránh nhầm với mật độ hoặc tỉ lệ nông thôn.
Dân cư thưa hơn cả nước, tập trung nhiều ở nông thôn
Mật độ dân số vùng khoảng **136 người/km² năm 2024**, thấp hơn trung bình cả nước. Khu vực trung du có dân cư đông hơn miền núi; phân bố giữa các tỉnh cũng khác nhau. Theo phạm vi SGK mới, Phú Thọ có mật độ 391 người/km², Lai Châu 55 người/km².
Dân cư chủ yếu sống ở nông thôn: **76,1% số dân vùng năm 2024**. Tỉ lệ thành thị tương ứng khoảng 23,9%. Mật độ đo số người trên một đơn vị diện tích, còn tỉ lệ nông thôn đo một bộ phận trong tổng dân số; hai chỉ tiêu giải đáp hai câu hỏi khác nhau.
Khi dùng bản đồ dân số trang 121, đối chiếu từng khoảng mật độ với chú giải, rồi nhận xét trung du, miền núi và các tỉnh. Bản đồ của SGK 2026 cập nhật địa giới; nếu so với bản đồ cũ cần kiểm phạm vi trước khi đối chiếu số.
Bài luyện
Cách đọc 136 người/km² phù hợp là gì?
Mật độ bình quân không mô tả phân bố đều ở từng ô diện tích.
Đã nhầm mật độ với tỉ lệ dân số và dùng sai đơn vị.
Đúng. Mật độ là số dân chia diện tích, ở đây khoảng 136 người/km².
136 là mật độ, không tổng số dân.
Lời giải
Mật độ là số dân chia diện tích, ở đây khoảng 136 người/km². Đây là trị bình quân của vùng, trong khi dân cư phân bố khác nhau giữa các địa bàn.
Bài luyện
Nông thôn chiếm 76,1% số dân năm 2024. Phần thành thị là bao nhiêu?
Phép trừ hai tỉ lệ cho phần trăm, không tự thành số người.
Đúng. Tỉ lệ thành thị = 100% − 76,1% = 23,9%.
Đây là phần nông thôn đã cho, không phần còn lại.
Hai bộ phận nông thôn và thành thị phải hợp thành 100%, không cộng thêm 100.
Lời giải
Tỉ lệ thành thị = 100% − 76,1% = 23,9%. Đây là phần trong dân số toàn vùng năm 2024, chưa phải số triệu người.
Đời sống cải thiện qua nhiều mặt
Công cuộc Đổi mới và các chương trình phát triển kinh tế – xã hội góp phần cải thiện đời sống. Trình độ dân trí được nâng lên, tỉ lệ người lớn biết chữ tăng, tỉ lệ hộ nghèo giảm theo SGK.
Thu nhập bình quân đầu người/tháng **theo giá hiện hành** tăng từ **0,9 triệu đồng năm 2010** lên **3,7 triệu đồng năm 2024**, tức tăng 2,8 triệu đồng giữa hai mốc. Đây là thu nhập bình quân tháng, không phải thu nhập năm và không phải số mọi người đều nhận như nhau.
Nhận xét chất lượng cuộc sống cần xem cả giáo dục, giảm nghèo và thu nhập. Dãy tiền theo giá hiện hành phản ánh mức danh nghĩa; chưa đủ kết luận sức mua tăng đúng bằng tỉ số hai con số nếu chưa xét thay đổi giá cả.
Bài luyện
Thu nhập bình quân tháng tăng từ 0,9 lên 3,7 triệu đồng. Mức tăng là gì?
Đúng. 3,7 − 0,9 = 2,8 triệu đồng/người/tháng.
Mức tăng bằng cuối trừ đầu, không cộng.
Số liệu tính theo tháng, không tự đổi sang năm.
Bình quân không có nghĩa thu nhập của từng người bằng nhau.
Lời giải
3,7 − 0,9 = 2,8 triệu đồng/người/tháng. Cần giữ thời kì, đơn vị bình quân và giá hiện hành khi nhận xét.
Bài luyện
Nhận xét nào có căn cứ hơn khi đánh giá đời sống vùng?
Trị bình quân không phản ánh đầy đủ khác biệt giữa các nhóm và địa bàn.
Muốn xét sức mua cần thêm thông tin về giá cả.
Đời sống thay đổi theo thời gian, cần giữ mốc và phạm vi.
Đúng. Chất lượng cuộc sống có nhiều mặt; SGK đưa cả giáo dục, giảm nghèo và thu nhập.
Lời giải
Chất lượng cuộc sống có nhiều mặt; SGK đưa cả giáo dục, giảm nghèo và thu nhập. Kết luận cần bám chỉ tiêu đã có, không đồng nhất bình quân với từng người hoặc mức danh nghĩa với sức mua.
Đang học