Vì sao Trung Quốc trở thành mục tiêu?
Giữa thế kỉ XIX, Trung Quốc là nước lớn, đông dân, giàu tài nguyên nhưng chính quyền phong kiến Mãn Thanh lâm vào khủng hoảng. Các nước tư bản phương Tây đang tăng cường tìm kiếm thị trường, nguồn lợi và thuộc địa. Điều đó khiến Trung Quốc trở thành đối tượng xâm lược, tranh giành của các nước đế quốc.
Cần nối cả hai mặt: mục tiêu của các nước xâm lược và tình hình suy yếu của chính quyền Mãn Thanh. Tài nguyên phong phú không tự gây ra chiến tranh; đó là một điều kiện khiến các nước đế quốc nhòm ngó.
Bài luyện: Nguyên nhân và điều kiện
Cách giải thích nào phù hợp với việc các nước đế quốc xâm lược Trung Quốc?
Đúng. Nhận xét nối mục tiêu xâm lược với tình hình Trung Quốc.
Dân số là một điều kiện, không thay mục tiêu xâm lược.
Nguồn mô tả quá trình gây chiến, ép kí hiệp ước và xâu xé.
Mục tiêu là mở rộng thị trường, nguồn lợi, không phải chấm dứt buôn bán.
Lời giải
Chọn A. Các nước đế quốc muốn mở rộng thị trường và giành nguồn lợi; Trung Quốc đông dân, giàu tài nguyên trong khi chính quyền Mãn Thanh suy yếu. Hai mặt ấy giúp giải thích quá trình xâm lược, không thể chỉ dùng dân số hoặc coi đây là việc tự nguyện trao quyền cai trị.
Chiến tranh thuốc phiện: cái cớ và thực chất
Năm **1840**, thực dân Anh lấy cớ chính quyền Mãn Thanh tịch thu, tiêu huỷ thuốc phiện của thương nhân Anh để gây chiến. Cuộc Chiến tranh thuốc phiện kéo dài đến **1842**, kết thúc bằng thất bại của Mãn Thanh.
Việc tịch thu thuốc phiện là **cái cớ được sử dụng để gây chiến**; thực chất là cuộc chiến tranh xâm lược nhằm mở cửa Trung Quốc và giành quyền lợi cho thực dân Anh. Không đồng nhất lời biện minh của bên gây chiến với mục đích thật của cuộc chiến.
Bài luyện: Phân biệt cái cớ
Theo bài, việc Mãn Thanh tịch thu thuốc phiện có vai trò gì?
Sau chiến tranh, Anh giành quyền lợi; các nước khác tiếp tục xâm nhập.
Đúng. Cần phân biệt sự kiện được viện dẫn và mục tiêu của cuộc chiến.
Nguồn xác định thực chất xâm lược, không phải cứu trợ.
Sự kiện được viện dẫn trước Chiến tranh thuốc phiện 1840–1842.
Lời giải
Chọn B. Anh viện dẫn việc tịch thu thuốc phiện để gây chiến năm 1840. Cái cớ ấy không thay thực chất xâm lược nhằm mở cửa Trung Quốc và giành quyền lợi. Hiệp ước Tân Sửu thuộc năm 1901, một giai đoạn sau.
Từ thất bại quân sự đến những nhượng bộ
Sau chiến tranh, Mãn Thanh phải kí **Hiệp ước Nam Kinh**. Trung Quốc phải mở năm cửa biển cho thương nhân Anh buôn bán, bồi thường chiến tranh và nhượng vùng đất Hồng Công cho Anh theo hiệp ước thời đó. Các điều khoản đem lại lợi thế cho thực dân Anh, làm suy giảm quyền tự chủ của Trung Quốc.
Đây là các sự kiện thế kỉ XIX. Tên địa danh và nội dung hiệp ước được đọc trong bối cảnh ấy.
Bài luyện: Nội dung và hệ quả
Nhóm thông tin nào thuộc Hiệp ước Nam Kinh trong bài?
Đó là nội dung của quá trình cách mạng về sau.
Đó là những cải cách ở Nhật Bản, không thuộc hiệp ước này.
Đúng. Đây là những nhượng bộ có lợi cho Anh.
Phương án đảo ngược bên phải nhượng bộ và nội dung mở cửa.
Lời giải
Chọn C. Mãn Thanh thất bại và phải kí Hiệp ước Nam Kinh, mở năm cửa biển, bồi thường, nhượng Hồng Công cho Anh. Những điều khoản cho thấy lợi thế của nước xâm lược và sự suy giảm quyền tự chủ của Trung Quốc; không nhầm với Tân Hợi hoặc Minh Trị.
Nhiều đế quốc cùng mở rộng ảnh hưởng
Sơ đồ giúp phân biệt các bước trong quá trình bị xâm lược.
Nửa sau thế kỉ XIX, các nước đế quốc tiếp tục xâu xé Trung Quốc: Đức ở Sơn Đông, Anh ở vùng châu thổ sông Dương Tử, Nga và Nhật Bản ở Đông Bắc, Pháp ở Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông theo SGK.
Năm **1901**, sau Hiệp ước Tân Sửu, Trung Quốc trở thành một nước **phong kiến, nửa thuộc địa**. Triều đình phong kiến vẫn tồn tại, đồng thời đất nước chịu sự chi phối nặng nề của các nước đế quốc. Không coi Trung Quốc là thuộc địa chỉ của một nước hoặc đã trở thành một nước cộng hoà ở mốc này.
Bài luyện: Sắp xếp quá trình
Trình tự nào phù hợp với sơ đồ?
Hiệp ước Tân Sửu 1901 diễn ra sau chiến tranh 1840–1842.
Tân Hợi 1911 thuộc giai đoạn sau những sự kiện trong sơ đồ.
Hai hiệp ước thuộc hai mốc khác nhau: sau chiến tranh 1840–1842 và năm 1901.
Đúng. Các sự kiện được đặt theo thứ tự thời gian.
Lời giải
Chọn D. Chiến tranh thuốc phiện 1840–1842 mở đầu một bước xâm lược; sau đó nhiều đế quốc tăng cường xâu xé. Hiệp ước Tân Sửu năm 1901 gắn với tình trạng phong kiến, nửa thuộc địa. Cần giữ thứ tự và phân biệt hai hiệp ước.
Ví dụ: đọc vùng ảnh hưởng trên lược đồ
Với hình 14.1, SGK tr.63, đọc tên “Trung Quốc đầu thế kỉ XX”, rồi xem chú giải màu vùng ảnh hưởng và kí hiệu kinh đô nhà Thanh. Sau đó mới nối tên đế quốc với khu vực tương ứng.
Chẳng hạn, chú giải vùng ảnh hưởng của Đức giúp đọc khu vực Sơn Đông. Màu thể hiện **phạm vi ảnh hưởng lịch sử**; không tự chứng minh mọi phần có cùng hình thức cai trị hoặc thuộc chủ quyền nước ấy hiện nay. Lược đồ cũng không cho diện tích chính xác nếu thiếu dữ kiện đo.
Bài luyện: Đọc chú giải
Từ màu vùng ảnh hưởng của Đức tại Sơn Đông trên lược đồ đầu XX, có thể rút ra điều gì?
Đúng. Nhận xét giữ đúng chú giải và mốc thời gian.
Lược đồ lịch sử không xác định chủ quyền hiện tại theo cách ấy.
Lược đồ có nhiều vùng ảnh hưởng của các đế quốc khác nhau.
Màu không cung cấp dữ liệu dân số.
Lời giải
Chọn A. Tên lược đồ xác định đầu thế kỉ XX, chú giải xác định vùng ảnh hưởng của từng đế quốc. Vì vậy có thể đọc ảnh hưởng của Đức ở Sơn Đông trong bối cảnh ấy. Không suy chủ quyền hiện nay, quyền cai trị toàn Trung Quốc hoặc số dân từ màu.
Bài luyện: Phong kiến, nửa thuộc địa
Nhận xét nào phù hợp về Trung Quốc sau Hiệp ước Tân Sửu 1901?
Trung Quốc chịu chi phối của nhiều đế quốc, triều đình vẫn tồn tại.
Đúng. Nhận xét giải thích hai mặt của tình trạng được SGK nêu.
Quá trình Tân Hợi xảy ra năm 1911, không ở mốc 1901.
Điều đó trái quá trình xâm lược và áp đặt hiệp ước.
Lời giải
Chọn B. “Phong kiến, nửa thuộc địa” thể hiện chính quyền phong kiến còn tồn tại nhưng đất nước bị các nước đế quốc chi phối mạnh. Không đồng nhất với nước cộng hoà hoặc thuộc địa riêng của Anh; cũng không coi những hiệp ước bất bình đẳng là biểu hiện độc lập hoàn toàn.
Đang học