Nhiều nhiệt, nhiều nắng
Việt Nam nằm trong vùng nội chí tuyến nên nhận nhiều nhiệt từ Mặt Trời. Theo khái quát trong SGK, **nhiệt độ không khí trung bình năm trên 20 °C, trừ vùng núi cao**, và nhìn chung tăng từ bắc vào nam. Số giờ nắng khoảng 1 400–3 000 giờ/năm; cán cân bức xạ dương khoảng 70–100 kcal/cm²/năm, nghĩa là bề mặt nhận được nhiều năng lượng bức xạ hơn lượng mất đi.
Đây là những biểu hiện của **tính nhiệt đới**. “Trung bình năm trên 20 °C” không có nghĩa mọi tháng hoặc mọi ngày đều trên 20 °C. Một số tháng mùa đông ở miền Bắc lạnh hơn vẫn phù hợp với đặc điểm chung.
Bài luyện: Đọc đúng đặc điểm
Nhận xét nào phù hợp với tính nhiệt đới của khí hậu Việt Nam?
Đúng. Nhận xét giữ phạm vi và ngoại lệ cần thiết.
Phương án đổi trung bình năm thành nhiệt độ của mọi tháng.
Một tháng lạnh không quyết định trung bình năm cả nước.
Đặc điểm chung không loại bỏ sự phân hoá theo độ cao.
Lời giải
Tính nhiệt đới thể hiện ở nền nhiệt cao và nhiều nắng. SGK nêu nhiệt độ trung bình năm trên 20 °C, trừ vùng núi cao; không suy thành mọi tháng đều nóng như nhau.
Đọc nhiệt độ của hai trạm
Theo từng đường và trục °C; so mức dao động của hai trạm.
Bảng trích các chỉ tiêu từ bảng 4.1 SGK; đơn vị **°C**, nguồn sách dẫn Trung tâm Thông tin và Dữ liệu khí tượng thuỷ văn. Bảng không ghi thời kì quan trắc, nên dùng như bộ dữ liệu trong SGK bản 2026, không gọi là nhiệt độ riêng năm 2026.
| Chỉ tiêu (°C) | Lạng Sơn | Cà Mau |
| --- | --- | --- |
| Trung bình năm | 21,3 | 27,1 |
| Tháng nóng nhất | 27,1 | 28,5 |
| Tháng lạnh nhất | 13,1 | 25,6 |
Cả hai trạm có nhiệt độ trung bình năm trên 20 °C, nhưng chế độ nhiệt khác nhau. Lạng Sơn có tháng lạnh rõ hơn; Cà Mau nóng quanh năm theo dữ liệu này. Đường nhiệt độ trong hình giúp theo dõi mức thay đổi giữa các tháng, không chỉ nhìn số trung bình.
Bài luyện: Trung bình năm và tháng
Lạng Sơn có nhiệt độ trung bình năm 21,3 °C, tháng lạnh nhất 13,1 °C. Hai số này cho thấy điều gì?
Trung bình năm không bằng từng giá trị tháng.
Đúng. Hai số mô tả hai chỉ tiêu khác nhau.
Biên độ cần lấy tháng nóng nhất trừ tháng lạnh nhất.
Cần xét nền nhiệt cả năm cùng sự phân hoá theo mùa.
Lời giải
21,3 °C là giá trị trung bình của năm, còn 13,1 °C là trung bình một tháng lạnh nhất. Một tháng dưới 20 °C không phủ nhận việc trung bình năm trên 20 °C.
Tính mức chênh giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất
**Biên độ nhiệt năm = nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất − nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất.** Đây là độ chênh, không phải nhiệt độ trung bình năm.
Từ bảng: Lạng Sơn có biên độ 27,1 − 13,1 = **14,0 °C**; Cà Mau có biên độ 28,5 − 25,6 = **2,9 °C**. Lạng Sơn dao động nhiệt giữa các tháng lớn hơn Cà Mau. Không lấy tháng nóng nhất trừ nhiệt độ trung bình năm để tính chỉ tiêu này.
Bài luyện: Tính biên độ
Theo bảng, biên độ nhiệt năm của Lạng Sơn là bao nhiêu?
Đây là 27,1 − 21,3, dùng sai chỉ tiêu.
Đây là tổng 27,1 + 13,1, không phải chênh lệch.
Đúng. 27,1 − 13,1 = 14,0 °C.
Đây là nhiệt độ trung bình năm.
Lời giải
Biên độ nhiệt năm lấy nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất trừ tháng lạnh nhất: 27,1 − 13,1 = 14,0 °C.
Bài luyện: So mức dao động
Biên độ nhiệt Lạng Sơn 14,0 °C, Cà Mau 2,9 °C cho phép nhận xét nào?
Biên độ không tự cho biết trạm nào lạnh hơn ở mọi tháng.
Biên độ khác với trung bình năm.
2,9 nhỏ hơn 14,0 nên phương án đảo chiều so sánh.
Đúng. So cùng chỉ tiêu cho thấy mức chênh lớn hơn tại Lạng Sơn.
Lời giải
Biên độ đo độ chênh giữa trung bình tháng nóng nhất và lạnh nhất. Vì 14,0 > 2,9, mức dao động ở Lạng Sơn lớn hơn; cần dữ liệu nhiệt cụ thể nếu muốn so nhiệt độ từng tháng.
Mưa nhiều và độ ẩm cao
Theo SGK, lượng mưa trung bình khoảng **1 500–2 000 mm/năm**, độ ẩm không khí trung bình **trên 80 %**. Vị trí ven Biển Đông và các khối khí mang ẩm góp phần tạo nên tính ẩm của khí hậu.
Lượng mưa đo bằng **mm**, còn độ ẩm không khí được biểu thị bằng **%**; chúng liên quan nhưng không phải cùng đại lượng. Bảng 4.2 ở trạm Hà Đông cho thấy các tháng có lượng mưa khác nhau trong khi độ ẩm đều cao. Tháng ít mưa vẫn có thể có độ ẩm không khí cao.
Khoảng mưa khái quát không phải mức bắt buộc của mọi trạm. Muốn chứng minh tính ẩm, kết hợp lượng mưa, độ ẩm và phạm vi nguồn, không dùng một ngày mưa để đại diện khí hậu cả nước.
Bài luyện: Phân biệt chỉ tiêu
Cặp nào ghi đúng đại lượng và đơn vị?
Đúng. Hai chỉ tiêu có đơn vị riêng.
Phương án đổi chỗ hai đơn vị.
Nhiệt độ đo bằng °C, lượng mưa bằng mm.
Biên độ nhiệt có đơn vị °C, độ ẩm dùng %.
Lời giải
Lượng mưa được đo bằng bề dày lớp nước, đơn vị mm; độ ẩm không khí biểu thị bằng %. Không thay hai số cho nhau dù đều liên quan đến nước trong khí quyển.
Bài luyện: Dùng dẫn chứng
Dẫn chứng nào phù hợp nhất để nêu tính ẩm của khí hậu nước ta theo SGK?
Hai chỉ tiêu này trực tiếp chứng minh tính nhiệt đới, chưa chứng minh tính ẩm.
Đúng. Hai chỉ tiêu cùng phản ánh tính ẩm.
Một sự kiện thời tiết chưa đại diện tính ẩm của khí hậu cả nước.
Đây là đặc điểm chế độ nhiệt, không thay chỉ tiêu mưa và độ ẩm.
Lời giải
Tính ẩm được chứng minh trực tiếp bằng lượng mưa khoảng 1 500–2 000 mm/năm và độ ẩm trung bình trên 80 % theo khái quát SGK. Cần phân biệt với các chỉ tiêu chứng minh tính nhiệt đới.
Bài luyện: Giữ phạm vi dữ liệu
Bảng nhiệt độ trong bài không ghi thời kì quan trắc. Cách giới thiệu nào phù hợp?
Năm bản sách không tự là năm quan trắc của bảng.
Mỗi bảng cần kiểm thời kì riêng; bảng này chưa nêu thời kì.
Đúng. Giới thiệu giữ nguồn và giới hạn thông tin.
Dữ liệu trạm không mặc định là trung bình của toàn địa bàn tỉnh.
Lời giải
Năm của bản sách không phải mặc định là năm quan trắc. Khi bảng chưa nêu thời kì, ghi đúng nguồn SGK và phạm vi trạm, không tự chuyển thành dữ liệu hiện hành hoặc dữ liệu toàn tỉnh.
Đang học