Hai miền khí hậu và dãy Bạch Mã
**Miền khí hậu phía Bắc**, từ Bạch Mã trở ra, có nền nhiệt trung bình năm trên 20 °C theo khái quát SGK; mùa đông chịu gió mùa Đông Bắc, có một số tháng trung bình dưới 20 °C. Mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều.
**Miền khí hậu phía Nam**, từ Bạch Mã trở vào, nóng quanh năm, trung bình năm trên 25 °C, biên độ nhiệt năm nhỏ; có mùa mưa và mùa khô rõ. Các đặc điểm theo miền vẫn cần xét cùng độ cao, không áp nhiệt độ vùng thấp cho mọi đỉnh núi.
Ví dụ từ bảng 4.1: Lạng Sơn có biên độ 14,0 °C, Cà Mau 2,9 °C. Cặp cùng chỉ tiêu này cho thấy sự khác nhau về chế độ nhiệt theo bắc–nam. Nêu dẫn chứng tốt hơn chỉ nói “hai miền khác nhau”.
Bài luyện: Ranh giới tự nhiên
Dãy núi nào được SGK dùng làm ranh giới hai miền khí hậu?
Hoàng Liên Sơn có vai trò đối với khác biệt Tây Bắc–Đông Bắc.
Không phải ranh giới hai miền khí hậu được nêu.
Đúng. Phía bắc và phía nam Bạch Mã có đặc điểm mùa khác nhau.
Đông Triều thuộc vùng núi Đông Bắc.
Lời giải
SGK chia miền khí hậu phía Bắc từ Bạch Mã trở ra, phía Nam từ Bạch Mã trở vào. Dãy núi góp phần hạn chế tác động khối khí lạnh về phía nam.
Bài luyện: Dẫn chứng cùng tiêu chí
Cặp dẫn chứng nào phù hợp để chứng minh phân hoá chế độ nhiệt bắc–nam?
Hai số khác chỉ tiêu nên chưa phải so sánh cùng tiêu chí.
13,1 °C và 25,6 °C là nhiệt độ tháng lạnh nhất, không phải biên độ nhiệt.
Hai dữ liệu khác thang thời gian, chưa phải so sánh khí hậu tương ứng.
Đúng. Hai số cùng chỉ tiêu, đơn vị và nguồn.
Lời giải
So cùng chỉ tiêu khí hậu tại hai trạm giúp chứng minh khác biệt chế độ nhiệt. Biên độ Lạng Sơn 14,0 °C và Cà Mau 2,9 °C cho thấy mức dao động nhiệt khác nhau. Cần phân biệt biên độ với nhiệt độ trung bình năm hay nhiệt độ tháng lạnh nhất.
Khác biệt từ biển vào đất liền
Theo chiều đông–tây, khí hậu phân hoá giữa vùng biển và đất liền, giữa đồng bằng ven biển phía đông và đồi núi phía tây. Biển có tác động điều hoà; vùng đồi núi phân hoá phức tạp do độ cao, hướng dãy núi và gió mùa.
Hoàng Liên Sơn làm suy yếu gió mùa Đông Bắc vào Tây Bắc; Trường Sơn làm mưa và khô nóng khác nhau giữa hai sườn trong những điều kiện gió nhất định. Vì vậy, không thể giải thích toàn bộ khí hậu chỉ bằng vĩ độ, cũng không kết luận mọi nơi ở phía tây đều ít mưa hơn mọi nơi phía đông.
Bài luyện: Nguyên nhân phân hoá
Tổ hợp nào cần xét khi giải thích khí hậu khác nhau giữa hai sườn Trường Sơn?
Đúng. Tổ hợp nối được địa hình với tác động khối khí.
Cùng vĩ độ vẫn có thể khác tác động của gió do địa hình.
Độ cao có vai trò nhưng chưa giải thích tác động khác nhau giữa hai sườn.
Cần xét cả địa hình và hướng gió để giải thích hai sườn Trường Sơn.
Lời giải
Phân hoá đông–tây cần xét vị trí so với biển, địa hình và tác động gió mùa. Với hai sườn Trường Sơn, hướng gió xác định sườn đón và khuất; quá trình không khí vượt núi góp phần tạo khác biệt mưa, khô nóng.
Các đai khí hậu trên núi
Nhiệt độ nhìn chung giảm khi lên cao, nên khí hậu vùng núi thay đổi theo đai. Theo SGK:
- **Đai nhiệt đới gió mùa**: miền Bắc đến khoảng 600–700 m, miền Nam đến khoảng 900–1 000 m; mùa hạ nóng.
- **Đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi**: từ phía trên đai nhiệt đới đến dưới 2 600 m; nhiệt độ trung bình các tháng dưới 25 °C, lượng mưa và độ ẩm tăng.
- **Đai ôn đới gió mùa trên núi**: từ 2 600 m trở lên; nhiệt độ trung bình các tháng dưới 15 °C.
Giới hạn trên của đai nhiệt đới khác giữa Bắc và Nam. Không lấy một con số chung cho cả nước hoặc coi mọi ngọn núi đều đủ cao để có ba đai. Các khoảng trong sách là giới hạn khái quát dùng trong bài học.
Bài luyện: Giữ khác biệt Bắc–Nam
Nhận xét nào đúng về giới hạn trên đai nhiệt đới gió mùa theo SGK?
Sách nêu các khoảng khác nhau giữa hai miền.
Đúng. Giới hạn miền Nam cao hơn theo khái quát SGK.
Phương án đổi chỗ hai miền.
2 600 m là ngưỡng chuyển sang đai ôn đới, không phải giới hạn trên đai nhiệt đới.
Lời giải
SGK nêu đai nhiệt đới gió mùa ở miền Bắc đến 600–700 m, miền Nam đến 900–1 000 m. Phải giữ khác biệt theo miền, không biến một đầu khoảng thành giới hạn cố định toàn quốc.
Bài luyện: Đọc đai cao
Theo giới hạn SGK, nơi ở độ cao 2 800 m thuộc đai khí hậu nào?
2 800 m vượt giới hạn đai nhiệt đới ở cả hai miền.
Đai cận nhiệt được sách giới hạn đến dưới 2 600 m.
Đúng. 2 800 m lớn hơn ngưỡng 2 600 m.
SGK có đai ôn đới gió mùa trên núi từ 2 600 m trở lên ở Việt Nam.
Lời giải
Theo phân đai của SGK, từ 2 600 m trở lên là đai ôn đới gió mùa trên núi. Vì 2 800 > 2 600, địa điểm giả định thuộc đai này; đây là xác định theo dữ kiện độ cao đã cho.
Độ cao khác nhau, khí hậu khác nhau
Hình 4.2 SGK so trạm Lào Cai ở 104 m với trạm Sa Pa ở 1 583 m. Bảng giữ đúng nhãn trên hình, nguồn Trung tâm Thông tin và Dữ liệu khí tượng thuỷ văn; hình không nêu thời kì quan trắc.
| Trạm | Nhiệt năm (°C) và mưa năm (mm) |
| --- | --- |
| Lào Cai, 104 m | 22,4 °C; 1 765 mm |
| Sa Pa, 1 583 m | 15,3 °C; 2 773 mm |
Sa Pa cao hơn, nhiệt độ trung bình năm thấp hơn 7,1 °C và tổng mưa năm lớn hơn 1 008 mm trong bộ dữ liệu. Cặp này minh hoạ phân hoá theo độ cao. Không suy từ hai trạm rằng lượng mưa luôn tăng không giới hạn khi lên mọi đỉnh núi.
Bài luyện: Tính chênh nhiệt
Theo hình 4.2, nhiệt độ trung bình năm Lào Cai 22,4 °C và Sa Pa 15,3 °C. Lào Cai cao hơn bao nhiêu °C?
Đây là tổng hai nhiệt độ.
Đây gần với tỉ số, không phải hiệu.
Đây là nhiệt độ Sa Pa, chưa tính chênh lệch.
Đúng. 22,4 − 15,3 = 7,1 °C.
Lời giải
Hai số cùng chỉ tiêu và đơn vị. Nhiệt độ Lào Cai cao hơn: 22,4 − 15,3 = 7,1 °C. Không cộng hay chia khi đề yêu cầu mức chênh.
Bài luyện: Kết luận từ cặp trạm
Nhận xét nào phù hợp với bộ dữ liệu Lào Cai–Sa Pa?
Đúng. Nhận xét dùng đúng độ cao và nhiệt độ của cặp trạm.
Bảng cho Sa Pa có tổng mưa lớn hơn; nhiệt thấp không tự quyết định lượng mưa thấp.
Hai trạm không đủ xác lập một quy luật tăng mưa cố định cho mọi địa điểm.
Cặp trạm được dùng minh hoạ sự khác biệt độ cao, không chỉ khoảng cách bắc–nam.
Lời giải
Lào Cai 104 m có nhiệt năm 22,4 °C, Sa Pa 1 583 m có 15,3 °C. Cùng tỉnh nhưng khác độ cao và khí hậu giúp chứng minh phân hoá; phạm vi kết luận vẫn là cặp dữ liệu đã đọc.
Tìm hiểu khí hậu địa phương
Chọn một địa phương, tìm trạm hoặc nguồn khí hậu phù hợp, ghi tên nguồn, thời kì dữ liệu và vị trí. Nhận xét nhiệt độ, mưa, các mùa; dùng ít nhất một cặp dẫn chứng để giải thích nét thuộc miền khí hậu hoặc ảnh hưởng độ cao, địa hình.
Sản phẩm có thể là bảng thông tin và đoạn giải thích ngắn. Phân biệt thời tiết vài ngày với khí hậu nhiều năm; phân biệt một trạm với toàn tỉnh, nhất là tỉnh sau sắp xếp gồm nhiều khu vực tự nhiên.
Bài luyện: Chọn căn cứ
Muốn tìm hiểu khí hậu địa phương, nguồn nào phù hợp hơn?
Một sự kiện thời tiết không đại diện cả khí hậu.
Đúng. Nguồn và phạm vi giúp rút nhận xét có căn cứ.
Dự báo ngày không phải chỉ tiêu trung bình năm.
Phải kiểm tính phù hợp của trạm, không ghép tuỳ tiện.
Lời giải
Khí hậu phản ánh đặc điểm thời tiết qua thời gian dài. Chọn dữ liệu nhiều năm có nguồn và vị trí phù hợp, rồi giải thích theo miền, độ cao, địa hình; không dùng một ngày hoặc một ảnh thay thế.
Đang học