Công nghiệp phát triển và công ty độc quyền
Cuối thế kỉ XIX–đầu XX, Nhật Bản đẩy mạnh công nghiệp hoá. Tiền bồi thường sau Chiến tranh Trung–Nhật **1894–1895** góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, đặc biệt là công nghiệp.
Tập trung trong sản xuất, thương nghiệp, ngân hàng làm xuất hiện các công ty độc quyền như **Mít-xui, Mít-su-bi-si, Su-mi-tô-mô**. Các công ty có vai trò lớn, chi phối đời sống kinh tế và chính trị thời đó. Không chỉ ghi “có nhà máy”: biểu hiện cần chú ý là mức tập trung và quyền lực của các công ty độc quyền.
Bài luyện: Nhận diện biểu hiện
Thông tin nào thể hiện sự hình thành chủ nghĩa đế quốc về kinh tế?
Đúng. Đây là những chuyển biến được SGK nêu.
Phương án thiếu chuyển biến công nghiệp và độc quyền.
Điều đó trái sự tập trung và vai trò của độc quyền.
Đổi tên không thay những biểu hiện kinh tế cần chứng minh.
Lời giải
Chọn A. Công nghiệp hoá đi cùng tập trung sản xuất và tư bản; nhiều công ty độc quyền xuất hiện, ảnh hưởng lớn tới kinh tế, chính trị. Những thông tin đó chứng minh chuyển biến sang đế quốc chủ nghĩa rõ hơn việc chỉ có nhà máy hoặc một tên gọi chính trị.
Ví dụ: đọc bằng chứng trong tư liệu công nghiệp
Tư liệu 2, SGK tr.66 nêu công nghiệp đóng tàu, vũ khí, quân trang trở thành ngành mũi nhọn; gang thép, điện tăng trưởng. Tư liệu còn nêu các tập đoàn tăng cường xuất vốn, lập nhà máy và kinh doanh ở Trung Quốc, Triều Tiên.
Từ đó có thể nhận xét hai mặt: phát triển công nghiệp phục vụ sức mạnh quân sự và mở rộng hoạt động tư bản ra nước ngoài. Tư liệu không phải một bảng xếp hạng công ti ngày nay, cũng không cho phép từ một ngành suy mọi ngành có cùng mức tăng.
Bài luyện: Dẫn chứng và nhận xét
Từ thông tin “tập đoàn xuất vốn, lập nhà máy ở nước ngoài”, có thể rút ra điều gì?
Tư liệu lịch sử không cung cấp thứ hạng hiện nay.
Đúng. Lập nhà máy bằng vốn là biểu hiện xuất khẩu tư bản.
Nguồn nói rõ xuất vốn và lập nhà máy, khác với chỉ bán hàng.
Tư liệu không có số liệu để kết luận cùng tỉ lệ.
Lời giải
Chọn B. Xuất vốn để lập nhà máy, kinh doanh ở nước ngoài là mở rộng đầu tư, tức xuất khẩu tư bản. Khác với chỉ bán sản phẩm ở nước ngoài, hoạt động này dùng vốn để tổ chức kinh doanh, thu lợi. Không suy số liệu tăng trưởng hoặc thứ hạng hiện tại từ tư liệu.
Ba mặt có quan hệ
Sơ đồ phân loại bằng chứng, không phải mọi hoạt động cùng xảy ra trong một năm.
Nhận diện chủ nghĩa đế quốc ở Nhật Bản cần xem sự phát triển độc quyền, xuất khẩu tư bản và chính sách xâm lược, bành trướng. Các mặt liên hệ với nhau: sức mạnh công nghiệp hỗ trợ quân sự; tư bản tìm nơi đầu tư, thị trường và nguồn lợi.
Bài luyện: Phân biệt hai hoạt động
Tình huống minh hoạ nào là xuất khẩu tư bản?
Đó là lưu thông trong nước, không xuất khẩu tư bản.
Tìm hiểu thông tin chưa phải đưa vốn ra nước ngoài.
Đúng. Vốn được đầu tư vào hoạt động kinh doanh ở nước ngoài.
Đây là xuất khẩu hàng hoá trong tình huống đã nêu.
Lời giải
Chọn C. Xuất khẩu tư bản là đưa vốn ra nước ngoài để đầu tư, cho vay hoặc tổ chức kinh doanh thu lợi. Tình huống xây nhà máy đáp ứng dấu hiệu ấy. Bán sản phẩm là xuất khẩu hàng hoá; chuyển hàng trong nước hoặc chỉ đọc tin không phải hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
Hai cuộc chiến và sự mở rộng thuộc địa
Nhật Bản tiến hành chính sách xâm lược, bành trướng. Cần phân biệt **Chiến tranh Trung–Nhật 1894–1895** với **Chiến tranh Nga–Nhật 1904–1905**. Nhật giành thắng lợi, mở rộng phạm vi chiếm giữ và thuộc địa theo những mốc khác nhau.
SGK nêu các vùng như Đài Loan, bán đảo Liêu Đông, cảng Lữ Thuận, phía nam đảo Xa-kha-lin, Sơn Đông. Khi đọc, đặt trong quá trình cuối XIX–đầu XX, không gộp tất cả là một vùng hoặc đều bị chiếm trong năm 1905.
Bài luyện: Ghép đúng mốc
Cặp nào đúng theo bài?
Hai mốc bị đổi chỗ.
1868 là mốc cải cách, không phải hai cuộc chiến này.
Chiến tranh thuốc phiện thuộc quan hệ Anh–Trung, không phải hai cuộc chiến này.
Đúng. Hai cuộc chiến khác nhau về đối thủ và thời gian.
Lời giải
Chọn D. Chiến tranh Trung–Nhật diễn ra 1894–1895, còn Nga–Nhật 1904–1905. Cần ghép đúng đối thủ với thời gian để hiểu quá trình bành trướng. Không nhầm mốc Duy tân Minh Trị 1868 hoặc Chiến tranh thuốc phiện 1840–1842.
Đọc hình 14.5 theo từng lớp thông tin
Mở lược đồ SGK tr.65. Đọc tên hình về bành trướng cuối XIX–đầu XX, sau đó tách **kí hiệu vòng tròn chỉ trung tâm công nghiệp** với **màu vùng, lãnh thổ bị chiếm ở các mốc khác nhau**.
Chẳng hạn, chú giải ghi Đài Loan thuộc nhóm bị chiếm năm 1895; phía nam Xa-kha-lin thuộc nhóm 1905. Nhận xét phải gắn màu với mốc. Hình không phải bản đồ lãnh thổ Nhật Bản hiện nay và không xác định mọi nơi có cùng hình thức cai trị.
Bài luyện: Đọc đúng kí hiệu
Cách đọc nào phù hợp với lược đồ bành trướng của Nhật?
Đúng. Cần đọc hai loại thông tin theo kí hiệu riêng.
Vòng tròn chỉ trung tâm công nghiệp; các vùng bị chiếm có màu và mốc khác nhau.
Đây là lược đồ lịch sử cuối XIX–đầu XX.
Màu thể hiện phạm vi, mốc chiếm giữ, không thể hiện năng suất.
Lời giải
Chọn A. Chú giải phân biệt vòng tròn trung tâm công nghiệp và các màu vùng bị chiếm theo từng mốc. Phải đọc đúng loại kí hiệu, rồi mới nhận xét sự mở rộng. Không dùng màu lịch sử để suy lãnh thổ hiện tại hoặc năng suất công nghiệp.
Bài luyện: Nhận xét đủ căn cứ
Nhóm bằng chứng nào đầy đủ nhất để trình bày sự hình thành chủ nghĩa đế quốc ở Nhật?
Giáo dục không tự chứng minh độc quyền, xuất tư bản hoặc xâm lược.
Đúng. Nhóm giữ các biểu hiện kinh tế và đối ngoại có liên hệ.
Mốc Hiến pháp thuộc cải cách chính trị, chưa đủ cho các biểu hiện cần nêu.
Tên gọi đơn lẻ chưa cho thấy mức tập trung, ảnh hưởng và hoạt động tư bản.
Lời giải
Chọn B. Cần nối tập trung và công ty độc quyền với xuất khẩu tư bản, phát triển công nghiệp phục vụ quân sự và xâm lược, bành trướng. Một mốc Hiến pháp, tên công ty hoặc chính sách giáo dục riêng lẻ chưa chứng minh đủ các biểu hiện ấy.
Bài luyện: Giới hạn tư liệu
Khi dùng tên Mít-xui trong bài để nhận xét hiện tại, cần làm gì?
Việc được nhắc không phải dữ liệu xếp hạng hiện hành.
Ảnh không cung cấp đủ dữ liệu sản lượng, thị phần.
Đúng. Tư liệu cuối XIX–đầu XX không tự xác nhận hiện tại.
Tổ chức, phạm vi và dữ liệu có thể thay đổi theo thời gian.
Lời giải
Chọn C. Vai trò của công ty trong bài thuộc cuối XIX–đầu XX. Muốn liên hệ hiện tại phải đối chiếu nguồn chính thức, mốc đổi tên hoặc tổ chức và dữ liệu có thời điểm. Không chuyển nguyên nhận định lịch sử thành thứ hạng hiện hành hoặc suy số liệu từ ảnh trụ sở.
Đang học