Khai hoang và khó khăn của nông dân
Nhà Nguyễn thực hiện nhiều biện pháp **khai hoang**, di dân lập ấp, lập đồn điền để mở rộng diện tích canh tác. Nguyễn Công Trứ có công tổ chức khai khẩn, lập nên Tiền Hải và Kim Sơn.
Tuy nhiên, địa chủ, cường hào tiếp tục chiếm ruộng đất. Nhiều nông dân thiếu đất, phải phiêu tán; lũ lụt, hạn hán gây thêm khó khăn. Vì vậy, có hoạt động khai hoang không đồng nghĩa vấn đề ruộng đất và đời sống nông dân đã được giải quyết.
Bài luyện: Chính sách nông nghiệp
Biện pháp nào được nhà Nguyễn sử dụng để mở rộng diện tích canh tác?
Đây là biện pháp trong thủ công nghiệp, không trực tiếp mở đất canh tác.
Đây là chính sách thuế thương nghiệp.
Đúng. Các biện pháp này phục vụ khai khẩn đất đai.
Chia tỉnh là cải cách hành chính, khác hoạt động khai hoang.
Lời giải
Chọn C. Nhà Nguyễn khuyến khích khai hoang thông qua di dân, lập ấp và đồn điền. Các hoạt động mở thêm đất canh tác; cần phân biệt với khai mỏ, tổ chức xưởng thủ công hoặc việc giải quyết quyền sở hữu ruộng đất.
Ví dụ: một chính sách chưa nói hết kết quả
Hai thông tin “triều đình tổ chức khai hoang” và “nhiều nông dân thiếu ruộng” có thể cùng đúng. Thông tin thứ nhất nói về biện pháp mở đất; thông tin thứ hai nói về phân phối ruộng đất và đời sống.
Muốn nhận xét nông nghiệp, cần xem cả hoạt động sản xuất, quyền sử dụng ruộng đất và thiên tai. Chỉ kể chính sách mà bỏ kết quả đời sống sẽ làm nhận xét thiếu căn cứ.
Bài luyện: Nối chính sách với kết quả
Vì sao việc tổ chức khai hoang không đủ chứng minh mọi nông dân thời Nguyễn đều có đời sống ổn định?
Mở thêm đất không tự chứng minh phân phối đều.
Đúng. Cần xét thêm phân phối ruộng đất và điều kiện sản xuất.
Đất khai hoang phục vụ canh tác; không có căn cứ “mọi diện tích chỉ dùng cho ngoại thương”.
Một trường hợp địa phương không đủ thay tình hình cả nước.
Lời giải
Chọn B. Khai hoang có thể mở thêm diện tích nhưng không tự bảo đảm ruộng được phân phối hợp lí. Địa chủ chiếm đất, nông dân thiếu ruộng và thiên tai vẫn ảnh hưởng đời sống. Vì thế phải đối chiếu chính sách với tình cảnh thực tế.
Có chuyển biến nhưng còn nhiều trở ngại
Thủ công nghiệp có tiến bộ về kĩ thuật; hoạt động khai mỏ được mở rộng. Buôn bán trong nước và với bên ngoài vẫn diễn ra.
Tuy nhiên, thuế khoá nặng, sự quản lí và hạn chế của triều đình cản trở sản xuất, trao đổi. Chính sách bế quan toả cảng làm hạn chế ngoại thương; một số đô thị, thương cảng như Thăng Long, Phố Hiến, Thanh Hà, Hội An sa sút.
**Bế quan toả cảng** trong nội dung này chỉ chính sách hạn chế quan hệ, giao thương với bên ngoài. Cần xét mức độ hạn chế ấy, đồng thời vẫn ghi nhận các hoạt động buôn bán được sách nêu.
Bài luyện: Nhìn đủ hai mặt
Nhận xét nào phù hợp về thủ công nghiệp và thương nghiệp thời Nguyễn?
Hạn chế không có nghĩa mọi hoạt động đều ngừng.
Thuế khoá và các quy định vẫn là trở ngại.
SGK nêu cả thủ công, khai mỏ và buôn bán.
Đúng. Cần nhận ra hoạt động kinh tế cùng những lực cản.
Lời giải
Chọn D. Thủ công, khai mỏ và buôn bán có những chuyển biến. Tuy nhiên, thuế và chính sách hạn chế của triều đình cản trở sự phát triển. Nhận xét “hoàn toàn ngừng” hoặc “phát triển tự do” đều không phản ánh đủ nội dung.
Bài luyện: Hiểu mức độ của nhận định
Cách giải thích nào đúng về tác động của chính sách bế quan toả cảng?
Đúng. Cần giữ đúng mức độ của chính sách và dẫn chứng.
Bế quan toả cảng là chính sách liên quan quan hệ, giao thương bên ngoài.
Hạn chế là trở ngại, không chứng minh mọi ngành đều thuận lợi.
Khẳng định tuyệt đối không phản ánh các hoạt động buôn bán được sách nêu.
Lời giải
Chọn A. Bế quan toả cảng gây trở ngại cho ngoại thương và giao lưu. Sách vẫn nêu hoạt động buôn bán, nên không thể diễn giải thành tuyệt đối không có trao đổi hàng hoá; cũng không nhầm với cải cách hành chính hoặc chính sách ruộng đất.
Đời sống khó khăn và các cuộc nổi dậy
Nhiều tầng lớp nhân dân phải chịu thuế khoá, lao dịch và sự áp bức của quan lại, địa chủ. Cùng với thiếu đất và thiên tai, những khó khăn ấy làm mâu thuẫn xã hội gay gắt, dẫn tới nhiều cuộc nổi dậy.
Lực lượng tham gia không chỉ có nông dân mà còn có thợ thủ công, binh lính, nhà nho và đồng bào dân tộc thiểu số. Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu là Phan Bá Vành, Nông Văn Vân, Cao Bá Quát.
SGK nêu **405 cuộc khởi nghĩa trong thời gian 1802–1862**. Số liệu cho thấy tình hình xã hội nhiều bất ổn trong khoảng được thống kê; cần giữ cả số lượng lẫn mốc thời gian khi sử dụng.
Bài luyện: Giải thích bất ổn xã hội
Chuỗi giải thích nào phù hợp với nội dung bài?
Thiên tai là một yếu tố; cần xét cả chính sách và quan hệ xã hội.
Đổi cơ cấu hành chính không đủ giải thích nổi dậy, cần xem tình cảnh nhân dân.
Đúng. Nguyên nhân cần nối với đời sống và mâu thuẫn xã hội.
Khai hoang không xoá tình trạng chiếm đất và thiếu ruộng.
Lời giải
Chọn C. Đời sống nhân dân bị tác động bởi thiếu đất, thuế khoá, lao dịch, thiên tai và áp bức. Những khó khăn làm mâu thuẫn giữa nhân dân với chính quyền, địa chủ gay gắt, thúc đẩy nhiều cuộc nổi dậy.
Bài luyện: Giữ phạm vi thống kê
Với thông tin “405 cuộc khởi nghĩa, 1802–1862”, kết luận nào có căn cứ?
405 là tổng cho khoảng thời gian được nêu.
Đúng. Kết luận giữ cả số lượng, thời gian và ý nghĩa.
Khoảng thống kê kéo dài đến 1862, qua nửa đầu thế kỉ.
Số tổng không phải số của từng năm.
Lời giải
Chọn B. Thông tin thống kê gồm số lượng và phạm vi 1802–1862. Nó cho thấy nhiều cuộc nổi dậy trong khoảng ấy; không chuyển thành số của một năm, từng năm hoặc riêng nửa đầu thế kỉ XIX.
Bài luyện: Thành phần tham gia
Thông tin có cả nông dân, thợ, binh lính, nhà nho và đồng bào dân tộc thiểu số trong các cuộc nổi dậy cho thấy điều gì?
Danh sách lực lượng không chứng minh một bộ chỉ huy chung.
Lực lượng được nêu là nhiều tầng lớp trong xã hội Việt Nam.
Nông dân là một lực lượng được nêu rõ.
Đúng. Dẫn chứng cho thấy phạm vi xã hội của sự bất bình.
Lời giải
Chọn D. Nhiều tầng lớp cùng có người tham gia nổi dậy cho thấy mâu thuẫn, bất bình và đấu tranh có phạm vi xã hội rộng. Dữ kiện về thành phần không đủ để khẳng định mọi cuộc nổi dậy cùng tổ chức hoặc cùng người lãnh đạo.
Đang học