Vì sao nông nghiệp hai đàng khác nhau?
Ở **Đàng Ngoài**, xung đột kéo dài làm sản xuất sa sút. Ruộng công bị lấn chiếm thành ruộng tư, nhiều nông dân mất đất phải lĩnh canh, tức nhận ruộng của địa chủ để cày và nộp tô. Họ còn phải nộp thuế, thực hiện nghĩa vụ khác; thiên tai, mất mùa làm đời sống thêm khó khăn.
Ở **Đàng Trong**, khai hoang mở rộng diện tích, kết hợp điều kiện tự nhiên thuận lợi, giúp nông nghiệp phát triển, nhất là đồng bằng sông Cửu Long. Tầng lớp địa chủ lớn dần hình thành; nông dân cũng có tình trạng mất đất, bần cùng hoá nhưng chưa nghiêm trọng như Đàng Ngoài. Không vì nông nghiệp phát triển mà kết luận mọi nông dân đều đủ ruộng và sung túc.
| Mặt so sánh | Đàng Ngoài | Đàng Trong |
| --- | --- | --- |
| Sản xuất | Sa sút | Phát triển nhờ khai hoang |
| Ruộng đất | Ruộng công bị lấn chiếm | Diện tích canh tác mở rộng |
| Nông dân mất đất | Nghiêm trọng | Có, nhưng nhẹ hơn |
Bảng khái quát tình hình theo SGK, không khẳng định mọi địa phương đều giống nhau trong suốt ba thế kỉ.
Bài luyện: So sánh hai đàng
Cách so sánh nào đúng theo bài?
Đúng. Đàng Ngoài chịu tác động xung đột, lấn chiếm ruộng và thiên tai; tình trạng nông dân mất đất nghiêm trọng. Đàng Trong phát triển nhờ khai hoang và điều kiện tự nhiên, nhưng vẫn hình thành địa chủ và có nông dân bần cùng hoá. So sánh cần giữ cả nét khác biệt và giới hạn của sự phát triển.
Phương án đảo đặc điểm, đồng thời phủ nhận sai sản xuất nông nghiệp Đàng Trong.
Thủ công phát triển không chứng minh mọi nông dân có cuộc sống sung túc.
Nông nghiệp Đàng Trong phát triển cùng sự hình thành tầng lớp địa chủ lớn.
Lời giải
Chọn A. Đàng Ngoài chịu tác động xung đột, lấn chiếm ruộng và thiên tai; tình trạng nông dân mất đất nghiêm trọng. Đàng Trong phát triển nhờ khai hoang và điều kiện tự nhiên, nhưng vẫn hình thành địa chủ và có nông dân bần cùng hoá. So sánh cần giữ cả nét khác biệt và giới hạn của sự phát triển.
Bài luyện: Ruộng đất và nghĩa vụ
Một người nông dân mất ruộng, phải nhận ruộng địa chủ để cày và nộp tô. Trường hợp ấy được gọi là gì?
Đúng. Lĩnh canh là nhận ruộng của địa chủ để canh tác và nộp tô. Theo bài, người nông dân còn phải nộp thuế cho Nhà nước và thực hiện nghĩa vụ khác. Vì thế, mất ruộng không chỉ thay đổi quyền sử dụng đất mà còn tạo gánh nặng sinh kế.
Khai hoang khác nhận ruộng của địa chủ để cày và nộp tô.
Theo bài, nông dân phải nộp tô và còn nộp thuế, làm nghĩa vụ khác; tô không thay toàn bộ khoản ấy.
Lĩnh canh là nhận ruộng của địa chủ, không đồng nghĩa sở hữu ruộng; người nhận phải nộp tô.
Lời giải
Chọn A. Lĩnh canh là nhận ruộng của địa chủ để canh tác và nộp tô. Theo bài, người nông dân còn phải nộp thuế cho Nhà nước và thực hiện nghĩa vụ khác. Vì thế, mất ruộng không chỉ thay đổi quyền sử dụng đất mà còn tạo gánh nặng sinh kế.
Quan xưởng và nghề thủ công trong dân
Chính quyền hai đàng duy trì **quan xưởng**, sản xuất vũ khí, đúc tiền, may trang phục và làm đồ dùng cho vua quan, quân đội. Bên cạnh đó, các nghề trong nhân dân như dệt, gốm, rèn sắt, đúc đồng, làm giấy phát triển mạnh.
Nhiều làng nghề nổi tiếng như gốm Bát Tràng, Thổ Hà, dệt La Khê, rèn Nho Lâm. Các ví dụ cho thấy sản xuất thủ công có nhiều ngành và địa điểm, không chỉ tập trung trong cơ sở của chính quyền. Tên làng nghề là dẫn chứng lịch sử; địa chỉ hành chính hiện nay cần được ghi riêng nếu có hoạt động tìm hiểu thực tế.
SGK dùng hình cây đèn gốm men lam xám thế kỉ XVI để tìm hiểu kĩ thuật gốm. Quan sát hoa văn, chất liệu và cấu tạo giúp nhận xét tay nghề; một hiện vật riêng không đủ tính tổng sản lượng gốm cả nước.
Bài luyện: Phân biệt cơ sở sản xuất
Dòng nào phân biệt đúng quan xưởng với nghề thủ công trong nhân dân?
Bài nêu nghề thủ công trong dân phát triển cùng quan xưởng, không bị thay thế hoàn toàn.
Quan xưởng do chính quyền tổ chức, cần phân biệt với nghề thủ công trong dân.
Bài phân biệt quan xưởng phục vụ chính quyền với các nghề trong dân; không có căn cứ đồng nhất mọi làng nghề.
Đúng. Quan xưởng là cơ sở sản xuất của chính quyền, có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu vua quan và quân đội. Các nghề trong nhân dân phát triển ở nhiều làng nghề, sản xuất các mặt hàng khác nhau. Cần phân biệt tổ chức và mục đích sản xuất, không gộp mọi cơ sở thành một hình thức do chính quyền tổ chức.
Lời giải
Chọn D. Quan xưởng là cơ sở sản xuất của chính quyền, có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu vua quan và quân đội. Các nghề trong nhân dân phát triển ở nhiều làng nghề, sản xuất các mặt hàng khác nhau. Cần phân biệt tổ chức và mục đích sản xuất, không gộp mọi cơ sở thành một hình thức do chính quyền tổ chức.
Bài luyện: Đọc hiện vật
Một cây đèn gốm thế kỉ XVI có hoa văn và cấu tạo tinh xảo giúp trực tiếp nhận xét điều gì?
Một sản phẩm tiêu biểu không chứng minh mọi nghề, mọi làng phát triển giống nhau.
Niên đại hiện vật không xác định địa giới hành chính qua các thời kì.
Đúng. Hoa văn, chất liệu và cấu tạo là những dấu hiệu quan sát được để nhận xét kĩ thuật chế tác trên cây đèn. Để xác định sản lượng, mức phát triển của mọi nghề hoặc địa giới cần thêm loại nguồn tương ứng; không khái quát vượt quá chứng cứ của một hiện vật.
Một hiện vật không cung cấp tổng số sản phẩm để tính sản lượng toàn quốc.
Lời giải
Chọn C. Hoa văn, chất liệu và cấu tạo là những dấu hiệu quan sát được để nhận xét kĩ thuật chế tác trên cây đèn. Để xác định sản lượng, mức phát triển của mọi nghề hoặc địa giới cần thêm loại nguồn tương ứng; không khái quát vượt quá chứng cứ của một hiện vật.
Hàng hoá, chợ và đô thị
Thủ công nghiệp phát triển tạo thêm hàng hoá, góp phần mở rộng buôn bán. Mạng lưới chợ hình thành ở đồng bằng và ven biển. Ngoại thương phát triển khiến nhiều đô thị trở thành nơi thương nhân trong và ngoài nước trao đổi.
Ở Đàng Ngoài có **Thăng Long (Kẻ Chợ), Phố Hiến**; ở Đàng Trong có **Thanh Hà, Hội An, Gia Định**. Các đô thị xuất hiện và khởi sắc ở những thời điểm khác nhau, không phải tất cả được xây cùng một năm. Nửa sau thế kỉ XVIII, chính sách hạn chế ngoại thương của chính quyền hai đàng khiến các thành thị dần suy tàn. Cần phân biệt giai đoạn phát triển với sự chuyển biến về sau.
Bài luyện: Sản xuất và trao đổi
Mối liên hệ nào đúng giữa thủ công nghiệp và thương nghiệp?
Nhiều hàng hoá tạo điều kiện trao đổi, không làm trao đổi chấm dứt.
Chợ và thương nghiệp phát triển cùng các hoạt động nông nghiệp.
Các đô thị phát triển khác thời điểm, về sau còn chịu chính sách hạn chế ngoại thương.
Đúng. Thủ công nghiệp cung cấp nhiều mặt hàng để mua bán, thúc đẩy thương nghiệp mở rộng. Chợ và đô thị hỗ trợ lưu thông hàng hoá. Mối liên hệ này không xoá bỏ nông nghiệp, cũng không chứng minh mọi đô thị phát triển liên tục ở mọi thời điểm.
Lời giải
Chọn D. Thủ công nghiệp cung cấp nhiều mặt hàng để mua bán, thúc đẩy thương nghiệp mở rộng. Chợ và đô thị hỗ trợ lưu thông hàng hoá. Mối liên hệ này không xoá bỏ nông nghiệp, cũng không chứng minh mọi đô thị phát triển liên tục ở mọi thời điểm.
Phố Hiến và Hội An qua tư liệu
SGK dẫn thông tin Phố Hiến có nhiều phường thủ công và buôn bán, có người nước ngoài sinh sống hoặc lui tới. Tư liệu về Hội An cho biết thuyền buôn Nhật, Hoa và các nước phương Tây tới bán hàng, mua tơ lụa, lâm sản, nông sản.
Hai dẫn chứng phản ánh đô thị gắn với sản xuất, trao đổi và giao thương quốc tế. Chúng có thể dùng để giải thích thương nghiệp phát triển; không chỉ từ việc có thương nhân nước ngoài mà kết luận đô thị đã bị nước ngoài cai trị.
Tranh Thăng Long thế kỉ XVII của X. Ba-ron được SGK dùng để hình dung sinh hoạt đô thị. Đây là tranh vẽ từ góc nhìn tác giả, cần kết hợp tư liệu chữ; không coi tranh là ảnh chụp hoặc bảng thống kê dân số.
Bài luyện: Đọc hai dẫn chứng
Điểm chung nào có căn cứ từ tư liệu Phố Hiến và Hội An?
Tư liệu không cho số liệu cùng cơ sở để kết luận hai đô thị cùng dân số, số phường.
Đúng. Tư liệu Phố Hiến nêu các phường buôn bán cùng người nước ngoài; tư liệu Hội An nêu thuyền buôn nhiều nước trao đổi hàng. Điểm chung là hoạt động giao thương có yếu tố quốc tế. Không có căn cứ từ các thông tin ấy để đồng nhất quy mô hoặc kết luận bị đô hộ.
Hội An thuộc Đàng Trong; cả hai dẫn chứng đều có hoạt động liên quan thương nhân nước ngoài.
Buôn bán hoặc cư trú của thương nhân không tự chứng minh quyền cai trị thuộc nước ngoài.
Lời giải
Chọn B. Tư liệu Phố Hiến nêu các phường buôn bán cùng người nước ngoài; tư liệu Hội An nêu thuyền buôn nhiều nước trao đổi hàng. Điểm chung là hoạt động giao thương có yếu tố quốc tế. Không có căn cứ từ các thông tin ấy để đồng nhất quy mô hoặc kết luận bị đô hộ.
Bài luyện: Nhìn theo thời gian
Nhận xét nào phù hợp khi học sự phát triển đô thị thế kỉ XVI–XVIII?
Chính sách hạn chế ngoại thương có tác động đến hoạt động buôn bán và đô thị.
SGK nêu hạn chế ngoại thương dẫn đến suy tàn, không phải nguyên nhân chung làm cảng thị hưng thịnh.
Các đô thị xuất hiện và phát triển ở thời điểm khác nhau.
Đúng. SGK mô tả sự khởi sắc của nhiều đô thị rồi nêu chuyển biến từ nửa sau thế kỉ XVIII do chính sách hạn chế ngoại thương. Nhận xét cần đặt trong giai đoạn, không coi tình hình của một lúc là cố định suốt ba thế kỉ hoặc đồng nhất thời điểm của mọi nơi.
Lời giải
Chọn D. SGK mô tả sự khởi sắc của nhiều đô thị rồi nêu chuyển biến từ nửa sau thế kỉ XVIII do chính sách hạn chế ngoại thương. Nhận xét cần đặt trong giai đoạn, không coi tình hình của một lúc là cố định suốt ba thế kỉ hoặc đồng nhất thời điểm của mọi nơi.
Tìm hiểu và bảo tồn một làng nghề
Có thể chọn một làng nghề được SGK nhắc đến, tra tư liệu của bảo tàng hoặc cơ quan văn hoá để ghi thời gian hình thành, sản phẩm, vai trò xưa và nay. Phân biệt mốc làng hình thành với mốc nghề phát triển mạnh; kiểm địa chỉ hiện nay và ngày công bố nguồn.
Sản phẩm tìm hiểu có thể gồm một bảng thông tin ngắn kèm hình được phép sử dụng, ghi nguồn và một đề xuất bảo tồn. Chẳng hạn, duy trì truyền dạy tay nghề, giới thiệu sản phẩm hoặc xử lí ô nhiễm cần được lựa chọn theo khó khăn có chứng cứ, thay vì chỉ nêu lời kêu gọi chung.
Bài luyện: Giải pháp có căn cứ
Nguồn tìm hiểu cho biết một làng nghề còn ít người trẻ học nghề. Đề xuất nào trực tiếp đáp ứng vấn đề đó?
Việc này giúp xác định vị trí, nhưng không trực tiếp giải quyết thiếu người trẻ học nghề.
Trưng bày giúp quảng bá nhưng chưa trực tiếp truyền dạy tay nghề cho người trẻ.
Đúng. Khó khăn đã cho là thiếu người trẻ học nghề, nên giải pháp trực tiếp là duy trì truyền nghề và tạo điều kiện tham gia sản xuất. Đề xuất bảo tồn cần dựa vào vấn đề cụ thể được nguồn xác nhận; cập nhật địa chỉ, trưng bày hay kiểm niên đại đều có giá trị riêng nhưng chưa trực tiếp giải quyết việc truyền nghề.
Kiểm niên đại cần cho hồ sơ di sản, nhưng vấn đề đã nêu đòi hỏi hoạt động truyền dạy, tiếp nối nghề.
Lời giải
Chọn C. Khó khăn đã cho là thiếu người trẻ học nghề, nên giải pháp trực tiếp là duy trì truyền nghề và tạo điều kiện tham gia sản xuất. Đề xuất bảo tồn cần dựa vào vấn đề cụ thể được nguồn xác nhận; cập nhật địa chỉ, trưng bày hay kiểm niên đại đều có giá trị riêng nhưng chưa trực tiếp giải quyết việc truyền nghề.
Đang học