Bờ biển có nhiều dạng địa hình
Địa hình ven biển Việt Nam đa dạng: vịnh cửa sông, bờ biển mài mòn, tam giác châu, bãi cát phẳng, cồn cát, đầm phá và vũng vịnh nước sâu. Các dạng này phản ánh tác động khác nhau của sông, biển cùng nền địa hình. Không thể dùng hình ảnh một bãi cát để mô tả toàn bộ bờ biển.
Có thể nối địa hình với khả năng sử dụng: bãi biển đẹp thuận lợi cho du lịch; vũng vịnh sâu tạo điều kiện xây dựng cảng; đầm phá thích hợp với một số hoạt động thuỷ sản khi điều kiện nước phù hợp. Địa hình tạo thuận lợi, còn hoạt động thực tế cần thêm hạ tầng, quản lí và bảo vệ môi trường.
Bài luyện: Nhận biết địa hình bờ
Nhóm nào thể hiện sự đa dạng địa hình ven biển Việt Nam?
SGK nêu nhiều dạng bờ biển khác nhau.
Nhóm này không phải các dạng địa hình ven biển bài đang xét.
Đúng. Đây là các dạng được học ở vùng ven biển.
Bờ biển mài mòn cũng là một dạng có ở nước ta.
Lời giải
Các dạng ven biển gồm vịnh cửa sông, đầm phá, cồn cát, vũng vịnh sâu và nhiều dạng khác. Nhận biết đa dạng cần kể các dạng khác nhau, không khái quát một dạng cho toàn bờ.
Bài luyện: Địa hình và hoạt động kinh tế
Đặc điểm địa hình nào tạo điều kiện thuận lợi trực tiếp cho việc xây cảng nước sâu?
Đúng. Độ sâu là một điều kiện địa hình liên quan đến cảng.
Đây là thuận lợi du lịch, chưa cho biết điều kiện tàu lớn tiếp cận.
Cồn cát không chứng minh độ sâu và điều kiện tàu ra vào.
Hang đẹp tạo giá trị cảnh quan, chưa là căn cứ xây cảng sâu.
Lời giải
Vũng vịnh có độ sâu phù hợp tạo thuận lợi xây dựng cảng. Đây mới là điều kiện tự nhiên; một cảng hoạt động còn cần hạ tầng, kết nối và quản lí.
Thềm lục địa không đồng đều
Về địa hình, thềm lục địa Việt Nam tiếp nối địa hình trên đất liền: **nông và bằng phẳng hơn ở phía bắc, phía nam; hẹp và sâu ở miền Trung** theo khái quát SGK. Khi so sánh, cần dùng cùng tiêu chí như độ rộng và độ sâu, không chỉ nói nơi này “lớn” hơn nơi kia.
Trong bài về các vùng biển, **thềm lục địa pháp lí** là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển ngoài lãnh hải, được xác định theo luật. Quy định có trường hợp kéo dài tới 200 hải lí khi mép rìa tự nhiên chưa tới đó. Vì vậy, thềm địa hình hẹp không có nghĩa quyền đối với thềm lục địa chỉ dừng ở phần đáy nông sát bờ. Hai cách dùng thuật ngữ liên quan nhưng mục đích khác nhau.
Bài luyện: Đọc đặc điểm thềm
Theo khái quát SGK, đặc điểm nào đúng?
Khái quát trong sách nêu miền Trung hẹp và sâu.
Đúng. So sánh theo độ rộng và độ sâu.
Địa hình thềm có sự khác nhau theo vùng.
Thềm lục địa có dọc vùng biển, không chỉ phía bắc.
Lời giải
Địa hình thềm tiếp nối địa hình đất liền, nông và bằng phẳng phía bắc, phía nam; hẹp và sâu miền Trung. Không biến mô tả khái quát thành độ sâu giống nhau tại mọi điểm.
Bài luyện: Hai cách nói về thềm
Vì sao không lấy bề rộng đáy biển nông để kết luận toàn bộ phạm vi thềm lục địa pháp lí?
Thềm pháp lí là đáy và lòng đất dưới đáy, không phải vùng trời.
Nội thuỷ là vùng nước phía trong đường cơ sở.
350 không áp dụng tự động ở mọi nơi.
Đúng. Phải đọc quy định pháp lí, không chỉ địa hình đáy nông.
Lời giải
Địa hình mô tả đặc điểm tự nhiên, còn phạm vi thềm pháp lí theo luật có những điều kiện xác định riêng. Thềm địa hình hẹp không đủ để kết luận quyền của Việt Nam chỉ dừng ở phần đáy nông.
Đảo ven bờ và các quần đảo
Ngoài **quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam**, nước ta có hệ thống đảo ven bờ. Đảo tập trung ở vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng, Khánh Hoà, An Giang và các khu vực khác. Theo địa danh trong SGK bản 2026, Phú Quốc thuộc An Giang, Cát Bà thuộc Hải Phòng. Đây là cách ghi theo mốc sách hiện hành, không dùng để thay tên đơn vị quản lí trong một tư liệu quá khứ.
Ở vùng Quảng Ninh–Hải Phòng, nhiều đảo có cấu tạo đá vôi, địa hình các-xtơ. Các đảo và quần đảo ở vùng biển phía nam có những dạng địa hình gắn với san hô. Không suy mọi đảo phía nam đều hình thành từ san hô hoặc có hình dạng giống nhau.
Khi đọc bản đồ trang 148, tìm đường bờ trước, rồi xác định đảo ven bờ và các quần đảo xa bờ. Một tên quần đảo chỉ tập hợp đảo cùng các bộ phận liên quan; không đồng nghĩa chỉ một đảo riêng lẻ.
Bài luyện: Dùng địa danh có mốc
Theo SGK bản 2026, cặp địa danh nào được ghi đúng?
Tên Kiên Giang thuộc bối cảnh trước sắp xếp; không dùng cho mọi thời kì.
Đúng. Đây là cặp địa danh theo bản sách đã học.
Hai địa danh quản lí đã bị đảo.
Không áp địa danh sau sắp xếp vào mọi tư liệu quá khứ.
Lời giải
Bản 2026 ghi Phú Quốc ở An Giang, Cát Bà ở Hải Phòng. Khi dùng tư liệu lịch sử, cần giữ bối cảnh và đơn vị quản lí của thời điểm tư liệu, có thể chú thích địa danh hiện nay nếu cần.
Bài luyện: Địa hình đảo
Dẫn chứng nào phù hợp với nội dung SGK?
Các đảo có cấu tạo và quá trình hình thành đa dạng.
Không mở rộng đặc điểm một số đảo thành mọi đảo phía nam.
Đúng. Đây là một nét phân hoá được SGK nêu.
Cấu tạo và quá trình hình thành có liên quan địa hình đảo.
Lời giải
SGK nêu nhiều đảo ở Quảng Ninh–Hải Phòng có đá vôi và địa hình các-xtơ. Nêu dẫn chứng theo đúng khu vực, không dùng “mọi” khi sách chỉ khái quát một nhóm.
Giới thiệu một khu vực biển đảo
Chọn **một** khu vực theo nhiệm vụ SGK trang 151: vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, quần đảo Hoàng Sa hoặc quần đảo Trường Sa. Từ SGK, SGV và nguồn chính thức, ghi vị trí, đặc điểm địa hình và nét khí hậu/hải văn phù hợp; dùng một bản đồ có nguồn để chỉ vị trí.
Sản phẩm có thể là một trang giới thiệu hoặc vài trang trình chiếu ngắn. Mỗi hình, số liệu cần tên nguồn, thời điểm nếu có và chú thích đúng đối tượng. Phân biệt diện tích vùng biển phân bố quần đảo với diện tích đất nổi của đảo. Khi nguồn không nêu năm, không gọi số đó là hiện trạng vừa đo; khi chưa kiểm ranh giới, không tự thêm đường biên.
Đọc lại sản phẩm bằng ba câu hỏi: đã chỉ đúng vị trí chưa; đặc điểm nào có dẫn chứng; kết luận có vượt điều nguồn cho biết không? Câu luyện hỗ trợ cách làm, còn sản phẩm giới thiệu cần được thực hiện riêng.
Bài luyện: Báo cáo có căn cứ
Cách làm nào phù hợp với nhiệm vụ giới thiệu một khu vực biển đảo?
Đúng. Sản phẩm có đối tượng, thao tác và dẫn chứng.
Hai loại diện tích có đối tượng khác nhau, không gộp.
Thông tin ranh giới phải theo nguồn chính thức đã kiểm.
Danh sách tên chưa đáp ứng nhiệm vụ vị trí và thiên nhiên.
Lời giải
Một báo cáo phù hợp cần chọn khu vực rõ, xác định vị trí và trình bày các đặc điểm tự nhiên có căn cứ. Hình và số liệu phải chú thích đúng loại đối tượng, nguồn và mốc thời gian nếu có.
Đang học