Mạng lưới dày đặc, phần lớn sông nhỏ
Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc, phân bố rộng khắp đất liền. SGK nêu 2 360 sông dài trên 10 km; phần lớn là sông nhỏ. Mưa nhiều cung cấp nước, còn địa hình nhiều đồi núi, chia cắt và lãnh thổ hẹp ngang góp phần tạo nhiều sông ngắn, dốc.
“Dày đặc” nói về mạng lưới, không có nghĩa mọi sông đều lớn hoặc mọi nơi có mật độ như nhau. Khi mô tả, cần kết hợp bản đồ với phạm vi số liệu, không dùng số sông như số lưu vực hoặc số tỉnh.
Bài luyện: Đọc đặc điểm chung
Cặp nào phù hợp với mạng lưới sông ngòi Việt Nam?
Không đúng đặc điểm mạng lưới được sách nêu.
Dày đặc không đồng nghĩa chiều dài giống nhau.
Đúng. Hai nhận xét nói về mật độ mạng lưới và quy mô sông.
Miền núi cũng có hệ thống sông, suối.
Lời giải
SGK khái quát mạng lưới dày đặc, rộng khắp và phần lớn sông nhỏ. Không biến nhận xét về mạng lưới thành kết luận mọi dòng sông đều lớn hoặc giống nhau.
Hướng sông gắn với hướng địa hình
Sông ngòi phần lớn chảy theo hướng **tây bắc–đông nam** và **vòng cung**. Địa hình quy định hướng dốc, các thung lũng và vì thế ảnh hưởng hướng chảy. Một số sông còn có hướng tây–đông hoặc hướng khác.
Ví dụ, khi nhận xét sông trên bản đồ, theo dõi dòng chính từ thượng lưu về hạ lưu, kết hợp phương hướng. Không nhìn một khúc uốn rồi kết luận hướng toàn sông; không hiểu “hai hướng chính” là không có bất kì hướng nào khác.
Bài luyện: Giải thích hướng chảy
Điều kiện nào liên quan trực tiếp nhất tới hai hướng chính của sông ngòi?
Sông chảy theo địa hình; gần biển chưa xác định được hướng tất cả các dòng.
Đúng. Nước chảy theo địa hình và thung lũng.
Lượng nước không thay vai trò địa hình đối với hướng chảy.
Hướng dòng chính gắn địa hình, không tự đổi theo hướng gió mùa.
Lời giải
Hướng địa hình và thung lũng ảnh hưởng hướng sông, nên các hướng tây bắc–đông nam, vòng cung nổi bật. Mưa giải thích nguồn nước và mùa dòng chảy hơn là hướng chính xác từng khúc.
Nhiều nước nhưng phân bố theo mùa
Chế độ nước có **mùa lũ** và **mùa cạn** do ảnh hưởng khí hậu gió mùa. Theo SGK, lượng nước mùa lũ thường chiếm khoảng 70–80 % tổng lượng nước cả năm; thời gian cụ thể khác giữa các hệ thống sông.
SGK khái quát sông ngòi có nhiều nước, hơn 800 tỉ m³/năm, và lượng phù sa lớn, khoảng 200 triệu tấn/năm. Đây là các số khái quát trong sách, không gọi là số đo riêng năm 2026. Nhiều nước cả năm vẫn có thể thiếu nước trong mùa cạn vì phân bố không đều theo thời gian.
Phù sa là vật liệu dòng nước mang theo. Mưa lớn và xói mòn góp phần đưa vật liệu vào sông, nhưng không vì vậy coi mọi nước đục đều có cùng chất lượng hoặc khuyến khích phá rừng để tăng phù sa.
Bài luyện: Giải thích mùa nước
Vì sao sông ngòi thường có mùa lũ và mùa cạn rõ?
Mùa lũ, cạn nói về lượng nước, không phải sự đảo hướng dòng chính.
Mạng lưới dày không trực tiếp giải thích nguồn nước thay đổi theo mùa.
Nguồn cấp theo mùa không đều nên cùng một năm vẫn có lũ và cạn.
Đúng. Chế độ mưa ảnh hưởng chế độ dòng chảy.
Lời giải
Khí hậu nhiệt đới gió mùa làm lượng mưa phân hoá theo mùa. Nguồn nước vào sông thay đổi theo đó, góp phần tạo mùa lũ và mùa cạn; thời gian mùa không giống nhau ở mọi lưu vực.
Bài luyện: Tổng năm và mùa cạn
Sông có lượng nước cả năm lớn nhưng mùa cạn ít nước. Nhận xét nào hợp lí?
Đúng. Tổng năm không mô tả trực tiếp từng thời đoạn.
Tổng lớn không bảo đảm phân bố đều.
Mùa cạn vẫn tồn tại trong chế độ dòng chảy.
Tổng năm và lượng ngày là phạm vi thời gian khác nhau.
Lời giải
Một phần lớn lượng nước tập trung vào mùa lũ. Vì vậy, tổng năm lớn vẫn có thể đi cùng thiếu nước mùa cạn; cần điều tiết và sử dụng hợp lí theo thời gian.
Đường sông khác với diện tích lưu vực
Theo mũi tên để phân biệt dòng đổ vào, dòng tách ra và vùng góp nước.
**Hệ thống sông** gồm dòng chính cùng phụ lưu, chi lưu. Phụ lưu đưa nước vào dòng chính; chi lưu tách nước từ dòng chính. **Lưu vực sông** là phần đất cung cấp nước cho hệ thống sông.
Sơ đồ chỉ giúp nhận biết các bộ phận, không phải bản đồ một sông thật. Ranh giới lưu vực bao quanh vùng góp nước, khác đường sông và khác địa giới tỉnh. Một hệ thống sông lớn có thể chảy qua nhiều tỉnh hoặc nhiều quốc gia.
Bài luyện: Phụ lưu và chi lưu
Trên sơ đồ, P đưa nước vào dòng chính, R tách nước từ dòng chính ra biển. Cách gọi nào đúng?
Phương án đổi chỗ hai khái niệm.
Cần đọc chiều chảy: P nhập nước, còn R tách nước ra.
Đúng. Dùng chiều nước chảy để xác định.
Có nhánh riêng chưa đủ; P đưa nước vào dòng chính nên là phụ lưu.
Lời giải
Phụ lưu đổ vào dòng chính nên P là phụ lưu. Chi lưu tách nước đi nên R là chi lưu. Ranh giới lưu vực là đường bao vùng góp nước, không phải những dòng này.
Xác định lưu vực trên hình 6.1
Mở hình 6.1 trang 122, đọc màu và kí hiệu **ranh giới lưu vực** trong chú giải. Tìm hệ thống sông Hồng, Thu Bồn, Mê Công; theo dõi vùng được tô cho mỗi hệ thống, rồi đối chiếu dòng chính, các nhánh và mốc vị trí.
Đọc thêm hình 6.3, 6.5, 6.7 để nhận rõ từng hệ thống. Các hình về phần lãnh thổ Việt Nam không thể hiện đầy đủ toàn bộ lưu vực quốc tế. Không lấy biên giới quốc gia hoặc địa giới một tỉnh làm ranh giới mặc định của lưu vực.
Khi trình bày kết quả, nêu tên hệ thống, vị trí tương đối, phạm vi phần lưu vực trên bản đồ và hai mốc giúp kiểm lại. Chỉ chỉ vào dòng chính là chưa xác định được diện tích lưu vực.
Bài luyện: Chọn đúng thông tin
Để xác định phạm vi lưu vực sông Hồng trên bản đồ, cần dùng gì?
Một tỉnh không mặc định trùng toàn lưu vực.
Đúng. Phạm vi phải được đọc từ lớp thông tin lưu vực.
Biên giới quốc gia không là toàn ranh lưu vực.
Một điểm định vị không cho diện tích vùng góp nước.
Lời giải
Đọc đúng màu và đường ranh giới lưu vực, sau đó đối chiếu dòng chính, phụ lưu và mốc vị trí. Phạm vi lưu vực khác phạm vi một tỉnh hoặc đường biên quốc gia.
Bài luyện: Giới hạn của lược đồ
Hình ghi “lưu vực hệ thống sông Hồng trên lãnh thổ Việt Nam”. Cách hiểu nào đúng?
Tiêu đề giới hạn phạm vi hình, chưa xác định toàn lưu vực.
Hai loại ranh giới có chức năng khác nhau.
Một hệ thống sông có thể vượt biên giới quốc gia.
Đúng. Kết luận giữ đúng phạm vi bản đồ.
Lời giải
Tiêu đề chỉ phần lưu vực nằm trên lãnh thổ Việt Nam. Khi tìm hiểu toàn hệ thống quốc tế, cần bản đồ có phạm vi rộng hơn; không biến giới hạn khung hình thành giới hạn toàn lưu vực.
Đang học