Mâu thuẫn thuộc địa làm quan hệ đế quốc căng thẳng
Cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, các nước đế quốc phát triển không đều. Đức có công nghiệp mạnh nhưng ít thuộc địa hơn những đế quốc đi trước như Anh, Pháp. Mâu thuẫn về thị trường và thuộc địa ngày càng gay gắt, các nước chạy đua vũ trang. Đây là **nguyên nhân sâu xa** của chiến tranh.
Trước chiến tranh, hai khối quân sự đối lập hình thành: **Liên minh** gồm Đức, Áo – Hung, I-ta-li-a (1882); **Hiệp ước** gồm Anh, Pháp, Nga (1907). Danh sách này nói về thành phần khi các khối hình thành, không có nghĩa thành phần và vai trò của mọi nước giữ nguyên suốt chiến tranh.
Bài luyện: Nguyên nhân sâu xa
Điều nào là nguyên nhân sâu xa của Chiến tranh thế giới thứ nhất?
Sự kiện này diễn ra trong chiến tranh, không phải nguyên nhân sâu xa làm chiến tranh bùng nổ năm 1914.
Đúng. Đây là mâu thuẫn lâu dài được SGK xác định.
Đây là duyên cớ trực tiếp, không phải mâu thuẫn sâu xa.
Đây là hậu quả, xuất hiện trong và sau chiến tranh.
Lời giải
Chọn B. Sự phát triển không đều làm so sánh lực lượng thay đổi, trong khi thuộc địa phần lớn do các đế quốc đi trước nắm giữ. Mâu thuẫn về thuộc địa trở nên gay gắt và dẫn đến đối đầu. Vụ ám sát năm 1914 là duyên cớ làm cuộc chiến bùng nổ, cần phân biệt với nguyên nhân lâu dài.
Duyên cớ châm ngòi và chiến tranh lan rộng
Sơ đồ giúp nối mâu thuẫn lâu dài với sự kiện châm ngòi.
Ngày **28–6–1914**, Thái tử kế vị Áo – Hung bị ám sát. Áo – Hung nhân sự kiện này tuyên chiến với Xéc-bi; Đức tuyên chiến với Nga ngày 1–8–1914. Cuộc chiến nhanh chóng lan rộng thành chiến tranh thế giới.
Sự kiện ám sát là **duyên cớ trực tiếp**, khác với mâu thuẫn thuộc địa đã tích tụ lâu dài. Nếu chỉ kể vụ ám sát, chưa giải thích được vì sao nhiều cường quốc bước vào cuộc chiến.
Bài luyện: Phân biệt hai loại nguyên nhân
Dòng nào phân biệt đúng?
Thiệt hại là hậu quả, còn hai khối hình thành trước chiến tranh.
Cách mạng diễn ra năm 1917, sau khi chiến tranh đã bùng nổ.
Đúng. Dòng giữ đúng vai trò của hai thông tin.
Mâu thuẫn thuộc địa có trước và là nguyên nhân sâu xa.
Lời giải
Chọn C. Mâu thuẫn về thuộc địa phát triển lâu dài giữa các đế quốc là nguyên nhân sâu xa. Vụ ám sát Thái tử Áo – Hung ngày 28–6–1914 được dùng làm duyên cớ tuyên chiến. Giải thích đủ cần giữ cả bối cảnh và sự kiện châm ngòi.
Bài luyện: Hai khối trước chiến tranh
Khối Hiệp ước khi hình thành năm 1907 gồm những nước nào theo bài học?
Đây là thành phần khối Liên minh khi hình thành năm 1882.
Đức thuộc khối Liên minh trong bảng thành phần trước chiến tranh.
Mỹ không thuộc bộ ba Hiệp ước khi hình thành; Áo – Hung thuộc Liên minh.
Đúng. Đây là thành phần khối Hiệp ước khi hình thành.
Lời giải
Chọn D. Khối Hiệp ước hình thành năm 1907 gồm Anh, Pháp, Nga; khối Liên minh năm 1882 gồm Đức, Áo – Hung, I-ta-li-a. Đây là danh sách ở thời điểm hình thành, không phải khẳng định mọi nước giữ nguyên vai trò trong toàn bộ cuộc chiến.
Những mốc đủ để theo dõi cuộc chiến
Chiến tranh diễn ra trong các năm **1914–1918**, ban đầu chủ yếu ở châu Âu rồi mở rộng. Mỹ tham chiến cùng phe Hiệp ước năm **1917**. Nga rút khỏi chiến tranh sau Cách mạng tháng Mười. Tháng **11–1918**, Đức đầu hàng, chiến tranh kết thúc với thắng lợi của phe Hiệp ước.
Các mốc giúp theo dõi bối cảnh; trọng tâm bài là giải thích nguyên nhân và đánh giá hậu quả, tác động. Chiến tranh được gọi là thế giới không chỉ vì nhiều nước tham chiến mà còn vì ảnh hưởng rộng đến cả những nơi không trực tiếp là chiến trường.
Vì sao là chiến tranh đế quốc phi nghĩa?
Xét mục đích của hai phe đế quốc, chiến tranh nhằm giải quyết mâu thuẫn và phân chia lại thuộc địa, phục vụ lợi ích của các nước đế quốc. Vì vậy, SGK xác định đây là **chiến tranh đế quốc phi nghĩa đối với cả hai bên tham chiến**.
Nhận định cần căn cứ mục đích chiến tranh, không chỉ dựa vào phe nào thắng. Người lao động và nhân dân các nước thuộc địa phải gánh nhiều tổn thất, dù lợi ích thu được chủ yếu thuộc về các lực lượng đế quốc.
Bài luyện: Căn cứ đánh giá
Căn cứ nào giải thích tính chất đế quốc phi nghĩa của cuộc chiến?
Đúng. Cần xét mục đích của các phe đế quốc.
Kết quả thắng không tự làm mục đích giành giật thuộc địa thành chính nghĩa.
Duyên cớ không thay thế mục đích chiến tranh khi đánh giá tính chất.
Quy mô và số nước không tự xác định mục đích chính nghĩa; cần xét mục tiêu của các phe đế quốc.
Lời giải
Chọn A. SGK xác định hai phe đế quốc tranh giành và phân chia lại thuộc địa. Mục đích phục vụ lợi ích đế quốc là căn cứ để gọi cuộc chiến phi nghĩa đối với cả hai phe. Không thể chỉ dựa vào kết quả thắng – thua để đánh giá mục đích.
Hậu quả: tổn thất về người và của
Bảng số liệu SGK8, tr.55, khái quát tổn thất của chiến tranh 1914–1918. Các con số dùng theo phạm vi thống kê trong SGK, không phải số liệu mọi cuộc chiến.
| Nội dung | Giá trị theo SGK |
| --- | --- |
| Số nước tham gia | 38 nước |
| Số người chết | 10 triệu người |
| Số người bị thương | 20 triệu người |
| Tổn thất kinh tế | 85 tỉ đô la Mỹ |
Nhiều thành phố, làng mạc, đường sá, cầu cống và nhà máy bị phá huỷ. Mất mát không chỉ ở số tiền: người chết, người bị thương và cơ sở sản xuất bị tàn phá làm nhiều gia đình thiếu người lao động, đời sống và việc khôi phục kinh tế khó khăn.
Bài luyện: Đọc tổn thất
Theo bảng trong SGK, số người bị thương bằng bao nhiêu lần số người chết?
0,5 là 10 chia 20, đảo hai đại lượng so sánh.
Đúng. Cả hai đều tính bằng triệu người, nên lấy 20 chia 10.
10 là số triệu người chết, không phải tỉ số.
20 là số triệu người bị thương, chưa chia cho số người chết.
Lời giải
Chọn B. Hai giá trị cùng đơn vị triệu người nên có thể so sánh: 20 : 10 = 2 lần. Kết luận này dùng các số liệu trong bảng SGK; không đổi đơn vị người thành tỉ đô la hoặc dùng số nước tham gia để tính tỉ số này.
Bài luyện: Từ số liệu đến tác động
Nhận xét nào phân tích hậu quả bằng dẫn chứng thay vì chỉ kể số?
Bảng không cho phép suy mọi nhà máy trên thế giới đều bị phá huỷ.
Thương vong lớn ảnh hưởng trực tiếp đời sống và sức lao động.
Đúng. Nhận xét nối tổn thất với tác động đến con người và kinh tế.
Số nước không chứng minh mọi người hưởng lợi; chiến tranh gây tổn thất nặng nề.
Lời giải
Chọn C. Phân tích cần nối bằng chứng với hệ quả. Thương vong làm nhiều gia đình mất hoặc giảm sức lao động; cơ sở sản xuất bị phá huỷ khiến khôi phục kinh tế khó khăn. Những nhận xét ấy có căn cứ hơn việc suy mọi người hưởng lợi hoặc mọi nhà máy đều bị phá huỷ.
Tác động: thay đổi tương quan lực lượng và cục diện
Tác động của chiến tranh không giống nhau giữa các nước. Nhiều nước châu Âu suy yếu, trong khi Mỹ hưởng lợi từ buôn bán vũ khí và không bị tàn phá trên lãnh thổ như các chiến trường châu Âu. Nhật Bản nâng vị thế ở Đông Á và Thái Bình Dương. Điều đó góp phần làm thay đổi tương quan lực lượng.
Trong quá trình chiến tranh, Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và sự thành lập nhà nước Xô viết đánh dấu bước chuyển lớn trong cục diện chính trị thế giới. Cần phân biệt **hậu quả tổn thất** với **tác động đến quan hệ quốc tế và cách mạng**, đồng thời không coi lợi ích của một nước là lợi ích chung của nhân loại.
Bài luyện: Hai mặt đánh giá
Dòng nào ghép đúng hậu quả và tác động của chiến tranh?
Hai thông tin này thuộc bối cảnh và duyên cớ, không phải hậu quả sau chiến tranh.
Chiến tranh gây tổn thất lớn và có những thay đổi cục diện.
Hai thông tin là diễn biến, chưa nêu đúng tổn thất và thay đổi cục diện.
Đúng. Hai vế nêu đúng hai mặt đánh giá.
Lời giải
Chọn D. Hậu quả được thấy qua thương vong và sự tàn phá. Tác động rộng hơn gồm thay đổi tương quan giữa các nước và bước chuyển chính trị gắn với Cách mạng tháng Mười, nhà nước Xô viết. Bối cảnh, duyên cớ và diễn biến cần được đặt ở phần khác.
Đọc tranh biếm hoạ mà không coi là bản đồ
Hình 12.3 trong SGK dùng hình ảnh chia phần để phê phán việc các đế quốc giành giật thuộc địa. Các phần lớn, nhỏ giúp thể hiện sự phân chia không đều. Đây là **tranh biếm hoạ**, cần tìm ý nghĩa của hình ảnh tượng trưng.
Tranh không cho tỉ lệ diện tích chính xác để đo hoặc tính km². Muốn đánh giá, nêu nhận xét, chỉ ra chi tiết tranh và nối với thông tin về mâu thuẫn thuộc địa trong bài.
Bài luyện: Giới hạn tranh biếm hoạ
Cách sử dụng hình 12.3 nào phù hợp?
Đúng. Cần đọc thông điệp tượng trưng và giữ giới hạn hình.
Tranh không phải bản đồ có tỉ lệ.
Đây là tranh biếm hoạ, không phải ảnh chứng cứ của một cuộc họp.
Tranh cần đọc cùng bối cảnh, không thay toàn bộ thông tin lịch sử.
Lời giải
Chọn A. Tranh biếm hoạ dùng hình ảnh tượng trưng để thể hiện và phê phán sự phân chia thuộc địa. Phần lớn, nhỏ giúp nhận ra thông điệp không đều, nhưng không có tỉ lệ địa lí để tính diện tích. Cần kết hợp tranh với thông tin lịch sử trong bài.
Đang học