Không khí được làm nóng như thế nào?
Mặt Trời cung cấp nhiệt cho Trái Đất. Mặt đất hấp thụ năng lượng rồi truyền nhiệt cho lớp không khí bên trên. Vì vậy, khi giải thích nhiệt độ không khí gần mặt đất, cần xét cả sự nóng lên của bề mặt đất.
Theo quy luật khái quát, càng từ Xích đạo về hai cực, nhiệt độ trung bình năm càng giảm. Ở vĩ độ thấp, góc chiếu của tia sáng Mặt Trời thường lớn hơn; ở vĩ độ cao, góc chiếu nhỏ hơn nên bề mặt nhận được ít nhiệt hơn. Đây là xu hướng chung: nhiệt độ từng nơi còn chịu tác động của các điều kiện khác. Không thể chỉ dùng vĩ độ để khẳng định nhiệt độ của mọi địa điểm vào một ngày.
Bài luyện: Nối quá trình
Cách giải thích nào phù hợp về sự nóng lên của không khí gần mặt đất?
Mặt Trời là nguồn cung cấp năng lượng, không nhận toàn bộ nhiệt từ không khí.
Cách giải thích nối nguồn nhiệt, mặt đất và không khí.
Mặt đất hấp thụ năng lượng từ Mặt Trời.
Mặt đất có vai trò truyền nhiệt cho không khí bên trên.
Lời giải
Chọn B. Mặt Trời cung cấp năng lượng; mặt đất hấp thụ và nóng lên, rồi truyền nhiệt cho không khí phía trên. Quá trình này giải thích vai trò của bề mặt đất đối với nhiệt độ không khí.
Bài luyện: Giải thích xu hướng chung
Vì sao nhiệt độ trung bình năm nhìn chung giảm từ Xích đạo về hai cực?
Xu hướng góc chiếu đã bị đảo.
Không thể coi độ cao mọi nơi giống nhau.
Góc chiếu nhỏ gắn với lượng nhiệt nhận được ít hơn.
Vùng cực vẫn có thời gian nhận ánh sáng trong năm.
Lời giải
Chọn C. Ở vĩ độ cao, góc chiếu của tia sáng Mặt Trời nhìn chung nhỏ hơn vĩ độ thấp. Nhiệt nhận được ít hơn nên nhiệt độ trung bình năm thường thấp hơn. Đây là quy luật khái quát, không phải lời dự báo từng ngày.
Đọc dụng cụ và chọn chỗ đo
Nhiệt kế đo nhiệt độ không khí, thường đọc theo độ C (°C). Ẩm kế đo độ ẩm (%), còn khí áp kế đo khí áp; ba đại lượng này không thay cho nhau. Hình minh họa dùng số tự đặt để luyện nhận đúng dụng cụ và đơn vị.
Khi thực hành, dùng nhiệt kế dành cho không khí theo hướng dẫn của giáo viên. Đặt ở nơi thoáng, tránh nắng chiếu trực tiếp và nguồn nhiệt như bếp, tường đang nóng; chờ số đo ổn định rồi đọc. Nắng chiếu trực tiếp có thể làm nóng dụng cụ, khiến số đo không phản ánh đúng nhiệt độ không khí cần đo. Không dùng nhiệt kế y tế thay cho nhiệt kế không khí.
Bài luyện: Nhận lỗi thao tác
Cách đo nào phù hợp để theo dõi nhiệt độ không khí?
Cách đặt giúp hạn chế tác động trực tiếp của nắng và nguồn nhiệt.
Tường nóng ảnh hưởng số đo.
Bếp là nguồn nhiệt làm sai mục đích đo.
Ẩm kế đo độ ẩm, không đo nhiệt độ.
Lời giải
Chọn A. Cần dùng đúng nhiệt kế không khí và hạn chế nguồn nhiệt tác động trực tiếp lên dụng cụ. Đặt thoáng, tránh nắng chiếu trực tiếp, đợi ổn định và ghi cả số cùng đơn vị °C.
Tính nhiệt độ trung bình ngày
Với số liệu các lần đo trong ngày theo bài tập, cộng các nhiệt độ rồi chia cho số lần đo. Nếu có bốn lần, phải chia cho bốn, không chỉ lấy nhiệt độ cao nhất và thấp nhất.
Ví dụ minh họa: bốn lần đo lúc 1 giờ, 7 giờ, 13 giờ, 19 giờ cho kết quả 20°C, 22°C, 30°C, 24°C. Tổng là 20 + 22 + 30 + 24 = 96°C; nhiệt độ trung bình ngày theo bốn số đã cho là 96 : 4 = 24°C. Số trung bình không có nghĩa mọi thời điểm trong ngày đều là 24°C.
Bài luyện: Tính từ bốn lần đo
Một ngày có bốn số đo minh họa: 18°C, 20°C, 28°C, 22°C. Nhiệt độ trung bình theo bốn lần đo là bao nhiêu?
28°C chỉ là giá trị lớn nhất.
88 là tổng bốn số, chưa chia số lần đo.
44 là kết quả chia tổng cho hai thay vì bốn.
Tổng 88 chia bốn lần đo bằng 22°C.
Lời giải
Chọn D. Cộng các nhiệt độ: 18 + 20 + 28 + 22 = 88. Có bốn lần đo nên 88 : 4 = 22°C. Ghi đơn vị của nhiệt độ trung bình là °C.
Từ tháng đến năm
Theo cách tính trong bài học, nhiệt độ trung bình tháng là trung bình các nhiệt độ trung bình ngày của tháng đó. Nhiệt độ trung bình năm được tính bằng tổng nhiệt độ trung bình của 12 tháng chia cho 12.
Ví dụ, nếu tổng 12 nhiệt độ trung bình tháng của một trạm giả định là 276°C, thì nhiệt độ trung bình năm là 276 : 12 = 23°C. Phải biết các số là nhiệt độ trung bình tháng; không cộng một số ngày bất kì rồi gọi là số trung bình năm.
Khi so sánh các địa điểm, dùng cùng đại lượng và thời kì số liệu. Bảng SGK trang 147 có thể dùng để đọc xu hướng theo vĩ độ; số trong sách không tự trở thành nhiệt độ đang đo hôm nay.
Bài luyện: Chọn phép tính năm
Tổng 12 nhiệt độ trung bình tháng của một trạm giả định là 252°C. Nhiệt độ trung bình năm theo cách tính bài học là bao nhiêu?
252 là tổng, chưa lấy trung bình.
252 : 12 = 21.
Chia hai không tương ứng 12 tháng.
12 là số tháng, không phải nhiệt độ trung bình.
Lời giải
Chọn B. Lấy tổng nhiệt độ trung bình 12 tháng chia số tháng: 252 : 12 = 21°C. Không dùng tổng 252°C làm nhiệt độ trung bình năm.
Bài luyện: Hiểu số trung bình
Một trạm có nhiệt độ trung bình năm 23°C. Có thể kết luận điều gì?
Số trung bình không làm các giá trị ngày bằng nhau.
Số trung bình khác số cao nhất.
Trung bình khái quát nhiều số đo, không thay từng số đo.
Các tháng có thể khác nhau dù có một giá trị trung bình năm.
Lời giải
Chọn C. Giá trị trung bình được tính từ nhiều giá trị. Nó giúp khái quát mức nhiệt, nhưng không nói mọi ngày hoặc tháng đều giống nhau; vẫn cần bảng hay biểu đồ để thấy sự thay đổi.
Đọc nhiệt độ cao nhất và thấp nhất trong bản tin
Bản tin dự báo thời tiết có thể nêu nhiệt độ cao nhất và thấp nhất trong ngày. Hiệu hai số cho biết khoảng chênh lệch được dự báo; không lấy riêng hai số đó làm nhiệt độ trung bình theo bốn lần đo.
Ví dụ minh họa: dự báo ngày mai thấp nhất 21°C, cao nhất 29°C thì chênh lệch là 29 − 21 = 8°C. Khi theo dõi bản tin thực tế, ghi tên nguồn, nơi dự báo và ngày; không trộn dự báo của hai địa điểm hoặc hai ngày khác nhau.
Bài luyện: Tính chênh lệch trong ngày
Một bản tin minh họa dự báo cùng một nơi, cùng một ngày: thấp nhất 20°C, cao nhất 31°C. Khoảng chênh lệch được dự báo là bao nhiêu?
25,5 là trung bình của hai số, không phải hiệu.
51 là tổng, không phải khoảng chênh lệch.
31 − 20 = 11°C.
31°C chỉ là nhiệt độ cao nhất.
Lời giải
Chọn C. Lấy nhiệt độ cao nhất trừ thấp nhất: 31 − 20 = 11°C. Đây là chênh lệch của hai giá trị dự báo trong ngày; không phải nhiệt độ trung bình ngày hoặc biên độ nhiệt năm.
Đang học