Hơi nước từ đâu vào không khí?
Nước ở biển, sông, hồ và trên mặt đất bốc hơi; sinh vật thoát hơi nước. Các quá trình đó đưa hơi nước vào không khí. Lượng hơi nước có trong không khí thể hiện độ ẩm; trong bài học, ẩm kế hiển thị độ ẩm theo phần trăm (%).
Không khí chỉ chứa được một lượng hơi nước nhất định ở một nhiệt độ nhất định. Khi độ ẩm đạt 100%, không khí bão hòa hơi nước theo cách diễn đạt của bài học. Không khí bão hòa tiếp tục lạnh đi có thể làm hơi nước ngưng tụ. Độ ẩm 85% chưa phải 100%, nhưng không có nghĩa 85% khối lượng không khí là nước.
Để thực hành với ẩm kế điện tử, đặt ở nơi cần đo theo hướng dẫn của thiết bị, tránh nắng trực tiếp hoặc nguồn nhiệt, hơi nước tác động ngay vào dụng cụ. Chờ chỉ số ổn định rồi đọc số kèm dấu %, ghi địa điểm và thời điểm. Nếu màn hình có cả nhiệt độ và độ ẩm, nhận đúng đơn vị để không đổi chỗ hai số. Không dùng một số đo độ ẩm để suy trực tiếp lượng mưa trong ngày.
Bài luyện: Đọc đúng đơn vị
Ẩm kế hiển thị 85%. Cách đọc nào đúng?
Nhiệt độ cần đọc từ nhiệt kế, theo °C.
Ẩm kế đo độ ẩm và dùng đơn vị %.
Lượng mưa dùng mm, không đọc từ ẩm kế.
Khí áp kế đo khí áp.
Lời giải
Chọn B. Nhận dụng cụ trước rồi đọc số và đơn vị. Ẩm kế cho độ ẩm 85%; nhiệt độ, lượng mưa và khí áp là các đại lượng khác.
Bài luyện: Nhận trạng thái bão hòa
Theo bài học, số hiển thị nào ứng với không khí bão hòa hơi nước?
0% không biểu thị bão hòa.
50% chưa đạt mức bão hòa.
85% vẫn thấp hơn 100%.
100% là mức bão hòa theo bài.
Lời giải
Chọn D. Ở cùng nhiệt độ đang xét, độ ẩm đạt 100% biểu thị không khí bão hòa hơi nước. Không nhầm mức này với nhiệt độ 100°C hoặc lượng mưa 100 mm.
Từ hơi nước thành hạt nước
Khi không khí đã bão hòa mà tiếp tục lạnh đi, hơi nước ngưng tụ thành các hạt nước nhỏ. Nhiều hạt nhỏ tập hợp tạo thành mây. Các hạt lớn dần, đủ nặng thì rơi xuống thành mưa.
Sơ đồ nối từng bước để giải thích vì sao mây và mưa liên quan đến hơi nước. Không phải cứ nhìn thấy mây là mưa sẽ rơi ngay; cần có quá trình hình thành và phát triển của các hạt nước.
Bài luyện: Tìm đúng bước
Trong quá trình trên, ngưng tụ là bước nào?
Ngưng tụ tạo hạt nước từ hơi nước.
Đây là bốc hơi, chiều chuyển đổi khác.
Đọc khí áp không phải ngưng tụ.
Đây là tính nhiệt độ trung bình.
Lời giải
Chọn A. Ngưng tụ là sự chuyển từ hơi nước sang các hạt nước nhỏ trong quá trình được mô tả. Bốc hơi đưa nước thành hơi; ngưng tụ là bước tạo hạt nước góp phần hình thành mây.
Lượng mưa năm là tổng, không phải trung bình tháng
Lượng mưa đo bằng dụng cụ đo mưa và biểu thị bằng milimét (mm). Lượng mưa năm là tổng lượng mưa của 12 tháng trong năm. Nếu tính lượng mưa trung bình năm của nhiều năm, trước hết lấy tổng từng năm, rồi cộng các tổng năm và chia cho số năm.
Ví dụ minh họa: một năm có tổng lượng mưa 1 500 mm, năm sau 1 700 mm. Trung bình năm của hai năm là (1 500 + 1 700) : 2 = 1 600 mm. Chia tổng mưa của một năm cho 12 chỉ cho trung bình tháng của năm đó, không phải tổng lượng mưa năm.
Bài luyện: Chọn cách tính
Đã có đủ lượng mưa của 12 tháng trong một năm. Muốn tính tổng lượng mưa năm, cần làm gì?
Các tháng không nhất thiết có lượng mưa bằng tháng nhiều nhất.
Phép chia cho 12 cho trung bình tháng.
Tổng năm bao gồm toàn bộ 12 tháng.
Các tháng ít mưa vẫn góp vào tổng năm.
Lời giải
Chọn C. Lượng mưa năm là tổng các lượng mưa tháng nên cộng đủ 12 số. Không chia 12 và không bỏ những tháng ít mưa.
Bài luyện: Tính từ các tổng năm
Ba tổng lượng mưa năm của một trạm giả định là 1 200 mm, 1 500 mm, 1 800 mm. Lượng mưa trung bình năm của ba năm là bao nhiêu?
4 500 là tổng ba năm, chưa chia số năm.
(1 200 + 1 500 + 1 800) : 3 = 1 500.
375 là lấy tổng ba năm chia 12 không đúng cơ sở.
1 800 chỉ là năm có lượng mưa lớn nhất.
Lời giải
Chọn B. Cộng ba tổng năm: 1 200 + 1 500 + 1 800 = 4 500 mm. Chia cho ba năm: 4 500 : 3 = 1 500 mm. Không dùng 12 làm số chia khi đang lấy trung bình của ba năm.
Đọc bản đồ phân bố lượng mưa
Lượng mưa phân bố không đều trên Trái Đất. Theo khái quát của SGK, vùng Xích đạo thường mưa nhiều, trên 2 000 mm/năm; nhiều nơi ở vùng chí tuyến và vùng cực mưa ít, dưới 500 mm/năm. Vùng ôn đới có lượng mưa thay đổi, khoảng 500 đến trên 1 000 mm/năm. Trong cùng một vùng vĩ độ vẫn có khác biệt.
Khi đọc hình 6 ở SGK trang 149, đọc chú giải các khoảng mưa trước. Tìm Xích đạo, chí tuyến và vòng cực, rồi đối chiếu màu của từng vùng với khoảng số trong chú giải. Không dùng riêng độ đậm nhạt theo cảm giác để đo lượng mưa.
Có thể theo dõi mưa tại nơi ở theo hướng dẫn của giáo viên: dùng đúng dụng cụ, đặt ở nơi không bị mái che hoặc vật cản ảnh hưởng, ghi ngày và đơn vị; chỉ đọc khi điều kiện an toàn. Đối chiếu các ngày có số liệu trước khi nhận xét, không lấy một ngày mưa to để kết luận lượng mưa của cả năm.
Ví dụ trên hình 6: vùng A-ma-dôn ở Nam Mỹ có khu vực màu xanh đậm, ứng với trên 2 000 mm/năm; phần hoang mạc Xa-ha-ra màu vàng ứng với dưới 200 mm/năm. Cần khoanh đúng vùng theo màu, không suy toàn bộ một châu lục đều thuộc cùng một khoảng mưa.
Bài luyện: Dùng chú giải
Muốn biết một vùng trên bản đồ lượng mưa thuộc khoảng nào, cần làm gì?
Kích thước chữ không biểu thị lượng mưa.
Điều kiện mưa giữa các vùng vẫn khác nhau.
Một ngày không đại diện cho tổng 12 tháng.
Chú giải nối kí hiệu màu với khoảng lượng mưa.
Lời giải
Chọn D. Xác định đúng vùng rồi ghép màu với chú giải. Chú giải mới cho khoảng lượng mưa tương ứng; vị trí gần biển hoặc cảm giác về màu không thay được việc đọc kí hiệu.
Bài luyện: So sánh vùng trên bản đồ
Theo ví dụ đọc hình 6 vừa nêu, nhận xét nào đúng?
Ví dụ chỉ phần A-ma-dôn mưa nhiều, không cho kết luận cả châu lục ít mưa.
Xa-ha-ra là ví dụ vùng mưa rất ít trên bản đồ.
Hai màu được đối chiếu đúng với chú giải.
Hai màu ứng với hai khoảng khác nhau trong chú giải.
Lời giải
Chọn C. Đối chiếu chú giải của hình 6: xanh đậm là trên 2 000 mm/năm, vàng là dưới 200 mm/năm. Các phần được chỉ ra của A-ma-dôn và Xa-ha-ra có màu tương ứng, nên thuộc hai khoảng mưa khác nhau.
Đang học