Thất bại cần được tìm hiểu bằng sự kiện
Lịch sử chống ngoại xâm có những cuộc kháng chiến không thành công. Trình bày diễn biến giúp phân biệt hoàn cảnh của từng cuộc, trước khi giải thích nguyên nhân và rút bài học. Ba trường hợp dưới đây không có cùng đối phương, tương quan lực lượng hay quyết định của người lãnh đạo.
Kháng chiến chống Triệu năm 179 TCN
Quân Triệu Đà nhiều lần tiến đánh Âu Lạc nhưng không thành công. Sau đó, Triệu Đà dùng kế hoà hoãn để dò xét, rồi bất ngờ đem quân đánh. An Dương Vương không giữ được Âu Lạc; cuộc kháng chiến thất bại năm 179 TCN theo mốc SGK.
Khi trình bày, cần xác định Âu Lạc là quốc gia bị xâm lược, quân Triệu là đối phương và An Dương Vương là người lãnh đạo. Bài học đặt ra liên quan tới cảnh giác, sự đoàn kết và cách tổ chức bảo vệ đất nước. Không lấy những chi tiết truyền thuyết chưa đối chiếu làm diễn biến lịch sử chắc chắn.
Kháng chiến chống Minh năm 1406–1407
Cuối năm 1406, quân Minh do Trương Phụ, Mộc Thạnh chỉ huy tiến vào xâm lược nước ta. Nhà Hồ lãnh đạo kháng chiến, tổ chức phòng thủ nhưng không ngăn được quân xâm lược. Đa Bang và Đông Đô, thuộc địa bàn Hà Nội ngày nay, lần lượt thất thủ; quân nhà Hồ rút về Tây Đô ở Thanh Hoá. Đến tháng 6-1407, cuộc kháng chiến thất bại.
Quốc hiệu dưới triều Hồ là **Đại Ngu**. Các địa danh Đông Đô, Tây Đô được dùng đúng bối cảnh lịch sử; chú thích hiện nay chỉ giúp định vị. Hạn chế trong tập hợp nhân dân và việc chú trọng phòng ngự, cố thủ là những nguyên nhân chủ quan cần xét cùng tương quan bất lợi trước lực lượng Minh.
Không nên suy từ việc có thành luỹ hoặc quân đội chính quy rằng kháng chiến chắc chắn thắng. Những yếu tố ấy cần được đặt trong quan hệ với lòng dân, tổ chức và đường lối kháng chiến.
Kháng chiến chống Pháp năm 1858–1884
Năm 1858, liên quân Pháp–Tây Ban Nha tiến công Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược. Quân dân Việt Nam chống trả, làm thất bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh. Pháp sau đó mở rộng đánh chiếm ở Gia Định, Nam Kì rồi Bắc Kì; phong trào kháng chiến tiếp diễn với các lực lượng và thủ lĩnh như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân.
Hai chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất và lần thứ hai ở Bắc Kì gây cho Pháp nhiều thiệt hại, cho thấy sức kháng cự của quân dân.
Triều Nguyễn có tổ chức chống trả trong những giai đoạn đầu, nhưng đường lối thiếu nhất quán, từng bước nhân nhượng rồi đầu hàng. Các hiệp ước Nhâm Tuất 1862, Giáp Tuất 1874, Hác-măng 1883, Pa-tơ-nốt 1884 phản ánh quá trình nhượng bộ và mất dần độc lập. Mốc 1858–1884 là phạm vi cuộc kháng chiến được khái quát ở đây, không có nghĩa mọi phong trào chống Pháp kết thúc năm 1884.
Khi giải thích thất bại, cần xét sự chênh lệch lực lượng, vũ khí cùng hạn chế về tổ chức, lãnh đạo và tập hợp nhân dân. Không đồng nhất quyết định đầu hàng của triều đình với tinh thần và hành động kháng chiến của nhân dân.
So sánh và rút bài học
Lập hồ sơ ba cuộc theo cùng năm tiêu chí: thời gian, đối phương, lãnh đạo, diễn biến chính, kết quả. Sau đó thêm một câu giải thích gắn với từng trường hợp. Với chống Minh, nêu hạn chế trong tập hợp lực lượng và cách phòng thủ; với chống Pháp, phân biệt hoạt động của triều đình với các phong trào nhân dân.
Từ so sánh, có thể rút bài học về xây dựng khối đoàn kết toàn dân, cảnh giác, chuẩn bị tiềm lực và lựa chọn đường lối phù hợp. Những bài học cần gắn với dẫn chứng, không biến thành một công thức bảo đảm thắng lợi bất kể hoàn cảnh. Đọc tiếp bài tổng kết để phân biệt nguyên nhân chủ quan và khách quan, đối chiếu với những cuộc kháng chiến thắng lợi.
Bài luyện
Cặp thời gian và cuộc kháng chiến nào đúng theo SGK?
Đúng. Ghép đúng ba mốc với ba đối phương.
Hai đối phương Triệu và Minh bị đảo.
Hai cuộc chống Minh và Pháp bị đảo.
Cả ba đối phương không đúng với những mốc đang xét.
Lời giải
Ba trường hợp được SGK khái quát là chống Triệu năm 179 TCN, chống Minh 1406–1407 và chống Pháp 1858–1884. Xác định đúng mốc và đối phương là bước trước khi so sánh nguyên nhân.
Bài luyện
Diễn biến nào gắn với kháng chiến của nhà Hồ chống Minh?
Đây là kháng chiến năm 938.
Đây là kháng chiến cuối 1788–1789.
Đúng. Phân biệt kháng chiến của nhà Hồ với khởi nghĩa Lam Sơn sau đó.
Đây là thắng lợi cuối khởi nghĩa Lam Sơn, không phải nhà Hồ.
Lời giải
Cuộc kháng chiến của nhà Hồ diễn ra 1406–1407. Sau khi các vị trí phòng thủ quan trọng thất thủ, quân nhà Hồ rút về Tây Đô rồi thất bại; Lam Sơn 1427 là một quá trình giải phóng về sau.
Bài luyện
Nhận định nào phản ánh đúng diễn biến chống Pháp nửa sau thế kỉ XIX?
Nhân dân kháng chiến từ khi Pháp mở đầu xâm lược.
Đúng. Phải phân biệt phong trào nhân dân và đường lối triều đình.
Kháng chiến đã diễn ra từ 1858 ởĐà Nẵng và nhiều nơi.
Các hiệpước phản ánh quá trình nhượng bộ và mất dần độc lập.
Lời giải
Từ 1858, quân dân Việt Nam đã chống Pháp; nhiều phong trào lan rộng. Triều Nguyễn từng bước nhân nhượng, đầu hàng, nhưng điều đó không làm mọi phong trào của nhân dân dừng lại.
Bài luyện
So sánh ba cuộc kháng chiến không thành công, cách rút bài học nào có căn cứ?
Vũ khí là một yếu tố, không thay thế các nhân tố tổ chức và con người.
Ba cuộc khác nhau về bối cảnh, lực lượng và quyết định của người lãnh đạo.
Thành luỹ cần đi cùng đường lối và sức mạnh toàn dân.
Đúng. So sánh cần cùng tiêu chí và giữ khác biệt từng trường hợp.
Lời giải
Bài học có căn cứ phải xuất phát từ hoàn cảnh, sự kiện và nguyên nhân đã xác định. Đoàn kết, chuẩn bị, lãnh đạo và tương quan lực lượng được xét trong quan hệ, tránh giải thích bằng một yếu tố duy nhất.
Ghi nhớ
Ba cuộc kháng chiến không thành công cần được trình bày theo đúng thời gian, đối phương, lãnh đạo, diễn biến và kết quả. Giải thích thất bại phải phân biệt các chủ thể, kết hợp yếu tố chủ quan với tương quan khách quan và có dẫn chứng cho bài học rút ra.
Đang học