“Lạnh” không có nghĩa không có chiến tranh
Trong thời kì đối đầu Mỹ–Liên Xô, hai siêu cường tránh một cuộc chiến tranh trực tiếp toàn diện nhưng nhiều khu vực vẫn chịu chiến tranh. Sự phân biệt này giúp hiểu đặc điểm của Chiến tranh lạnh và hậu quả đối với các dân tộc.
Đối lập về hệ tư tưởng và quyền lực
SGK sử dụng khung Chiến tranh lạnh 1947–1989, chỉ tình trạng đối đầu căng thẳng về tư tưởng, chính trị, quân sự, kinh tế giữa hai phía do Mỹ và Liên Xô đứng đầu. Nguyên nhân cơ bản là sự đối lập sâu sắc về hệ tư tưởng và quyền lực trong trật tự sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Năm 1947, Học thuyết Tơ-ru-man công khai chính sách ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản. Kế hoạch Mác-san giúp Tây Âu phục hồi kinh tế, đồng thời mở rộng ảnh hưởng của Mỹ và tập hợp các nước Tây Âu. Chính sách kinh tế vì thế cần được đọc trong quan hệ với mục tiêu chính trị quốc tế.
Liên Xô và các nước Đông Âu thành lập Hội đồng Tương trợ kinh tế, tức SEV, năm 1949 để tăng cường hợp tác, hỗ trợ phát triển. Về quân sự, NATO ra đời năm 1949; Tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va thành lập năm 1955 để đối trọng với NATO. Sự hình thành hai khối quân sự thể hiện sự phát triển của đối đầu.
| Lĩnh vực | Biểu hiện cần phân biệt |
|---|---|
| Chính sách | Học thuyết Tơ-ru-man và mục tiêu ngăn chặn năm 1947. |
| Kinh tế | Kế hoạch Mác-san; SEV có chức năng hợp tác kinh tế. |
| Quân sự | NATO và Tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va. |
Các biểu hiện có quan hệ với nhau nhưng không cùng chức năng; không gọi SEV là một liên minh quân sự.
Đối đầu trực tiếp và chiến tranh khu vực
Chiến tranh lạnh kéo dài hơn bốn thập niên, có những thời điểm căng thẳng cao độ và cuộc chạy đua vũ trang quyết liệt, đặc biệt về vũ khí hạt nhân. Khủng hoảng tên lửa Cu-ba năm 1962 là ví dụ về nguy cơ đối đầu leo thang.
Tuy vậy, không xảy ra chiến tranh trực tiếp toàn diện giữa Mỹ và Liên Xô. Hai bên cũng có đàm phán, thoả thuận và cơ chế liên lạc nhằm xử lí khủng hoảng. Cạnh tranh và đối thoại có thể cùng tồn tại trong một giai đoạn; một cuộc gặp chưa đủ chứng minh mọi đối đầu đã kết thúc.
Trong khi đó, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh ở Việt Nam, Áp-ga-ni-xtan và các xung đột Trung Đông vẫn gây tổn thất lớn. Vì vậy, cách gọi “không nổ súng” chỉ dùng để giải thích quan hệ đối đầu trực tiếp giữa hai siêu cường, không thể áp cho đời sống của toàn thế giới.
Hậu quả đối với thế giới và Việt Nam
Chạy đua vũ trang tiêu tốn nguồn lực khổng lồ, tạo nguy cơ huỷ diệt hạt nhân và duy trì bầu không khí căng thẳng. Đối đầu còn tác động tới kinh tế, quan hệ quốc tế, lựa chọn phát triển của nhiều nước; các cuộc chiến tranh cục bộ để lại thương vong, tàn phá và di chứng lâu dài.
Đối với Việt Nam, cần liên hệ hoàn cảnh quốc tế với các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam có mục tiêu độc lập, thống nhất, đồng thời chịu tác động của đối đầu quốc tế và sự can dự từ bên ngoài. Không thể chỉ kể quan hệ Mỹ–Liên Xô rồi bỏ vai trò chủ động của nhân dân Việt Nam.
Khi đánh giá hậu quả, có thể xét mất mát con người, cơ sở vật chất, chia cắt, khó khăn phát triển và di chứng chiến tranh. Nêu một dẫn chứng rồi giải thích tác động đối với đời sống; không lấy con số từ một cuộc chiến để gọi là toàn bộ tổn thất của Chiến tranh lạnh.
Vì sao đối đầu đi đến kết thúc?
Những nguyên nhân kết thúc có quan hệ với nhau. Chạy đua vũ trang kéo dài làm suy giảm sức mạnh, gia tăng nhu cầu ổn định và phát triển của Mỹ, Liên Xô. Sự vươn lên của Nhật Bản, Tây Âu làm thay đổi tương quan kinh tế; khủng hoảng ở Liên Xô trở nên nghiêm trọng trong nửa sau thập kỉ 1980.
Xu hướng hoà hoãn, đối thoại và hạn chế vũ khí phát triển từ thập kỉ 1970, tiêu biểu có thoả thuận SALT-I năm 1972. SGK cũng nêu sai lầm trong chính sách và cải tổ dưới thời M. Goóc-ba-chốp là một nhân tố thúc đẩy kết thúc đối đầu. Không quy mọi thay đổi chỉ cho một cá nhân hoặc một cuộc gặp.
Tháng 12-1989, cuộc gặp Man-ta gắn với tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh theo mốc khái quát của SGK. Năm 1991, Liên Xô tan rã, trật tự hai cực I-an-ta sụp đổ. Hai mốc liên quan nhưng không phải cùng một sự kiện; năm 1989 không phải năm Liên Xô tan rã.
Kết thúc đối đầu tạo điều kiện thuận lợi cho đối thoại, giải quyết xung đột, hợp tác và phát triển kinh tế; tương quan quốc tế cũng thay đổi mạnh. Với Việt Nam, tình hình mới mở thêm điều kiện điều chỉnh quan hệ, mở rộng hợp tác và tranh thủ nguồn lực phát triển, đồng thời cần giữ độc lập, tự chủ. Điều kiện hoà bình thuận lợi không tự xoá mọi mâu thuẫn.
Đọc văn kiện và lập chuỗi giải thích
Đọc Tư liệu 3 SGK tr. 29 và Tư liệu 4 tr. 30: xác định chủ thể, mục tiêu của chính sách và nội dung về liên minh quân sự. Đặt chúng vào đúng bối cảnh, không lấy câu chữ lịch sử làm mô tả mọi chính sách của các nước hiện nay.
Với Tư liệu 5 tr. 32, ghi thời kì và chỉ tiêu chi quốc phòng trước khi dùng số liệu. Từ đó lập chuỗi: gánh nặng nguồn lực, nhu cầu điều chỉnh, tăng đối thoại. Bổ sung các nguyên nhân khác ở tr. 33 để tránh giải thích đơn tuyến.
Viết hai đoạn riêng: hậu quả đối với thế giới, Việt Nam; tác động của việc kết thúc đối đầu. Dùng đúng mốc Man-ta 1989 và Liên Xô tan rã 1991. Với mỗi đoạn, cần dẫn chứng và lời giải thích quan hệ giữa các sự kiện.
Bài luyện
Nguyên nhân cơ bản của Chiến tranh lạnh được xác định thế nào?
Đó là một biểu hiện căng thẳng trong quá trình đối đầu.
Đúng. Đây là nguyên nhân cơ bản theo SGK.
SEV ra đời năm 1949, không trước cuộc chiến thứ nhất.
Trật tự hai cực sụp đổ ở cuối quá trình.
Lời giải
Chiến tranh lạnh bắt nguồn từ đối lập sâu sắc về hệ tư tưởng, quyền lực. Những học thuyết, kế hoạch và liên minh là biểu hiện của quá trình đối đầu.
Bài luyện
Cặp tổ chức nào cùng thuộc lĩnh vực liên minh quân sự?
Đây là hợp tác kinh tế và một kế hoạch viện trợ.
Đây không phải cặp khối quân sự đối đầu trong bài.
Hai tổ chức có chức năng khác loại.
Đúng. Sự đối đầu hai khối là biểu hiện quân sự.
Lời giải
NATO và Tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va là hai liên minh chính trị, quân sự được nêu trong bối cảnh đối đầu. SEV là tổ chức hợp tác kinh tế.
Bài luyện
Cách hiểu nào đúng về đặc điểm “không nổ súng”?
Đúng. Cần giữ đúng phạm vi quan hệ được mô tả.
Nhiều nơi vẫn có chiến tranh, xung đột.
Chạy đua vũ trang là đặc điểm nổi bật.
Các cuộc chiến để lại tổn thất rất lớn.
Lời giải
Cách gọi chỉ sự đối đầu không thành chiến tranh trực tiếp toàn diện giữa hai siêu cường. Nó không phủ nhận chiến tranh và tổn thất ở nhiều khu vực.
Bài luyện
Khi liên hệ hậu quả Chiến tranh lạnh với Việt Nam, cách nào đầy đủ hơn?
Cần xét lịch sử, mục tiêu và lực lượng ở Việt Nam.
Cuộc đấu tranh có tổ chức, mục tiêu và tính chủ động.
Đúng. Có bối cảnh quốc tế và chủ thể dân tộc.
Số liệu cần nguồn, chỉ tiêu và phạm vi.
Lời giải
Việt Nam chịu tác động của cục diện quốc tế, đồng thời nhân dân chủ động đấu tranh vì độc lập, thống nhất. Phân tích hậu quả phải gắn con người và đời sống với đúng bối cảnh.
Bài luyện
Cách ghép mốc nào đúng?
Hai mốc và sự kiện đã bị đảo.
Đúng. Cần phân biệt hai sự kiện liên quan.
Năm 1947 thuộc giai đoạn mở đầu đối đầu.
Man-ta không phải hội nghị thành lập Liên hợp quốc.
Lời giải
SGK dùng mốc Man-ta 1989 cho tuyên bố kết thúc Chiến tranh lạnh; Liên Xô tan rã và trật tự hai cực sụp đổ năm 1991. Không gộp thành cùng một năm.
Bài luyện
Nhận định nào giải thích sự kết thúc Chiến tranh lạnh có căn cứ?
Ảnh cho thấy một thời điểm, chưa thay phần giải thích.
Những trung tâm mới là một nhân tố SGK nêu.
SGK phân tích nhiều nguyên nhân liên hệ nhau.
Đúng. Cần xét cả điều kiện, quá trình và chính sách.
Lời giải
Kết thúc đối đầu là kết quả nhiều nhân tố. Đánh giá cần nối gánh nặng nguồn lực, thay đổi tương quan, khủng hoảng và điều chỉnh chính sách, đối thoại.
Ghi nhớ
Giữ đủ nguyên nhân, đặc điểm, hậu quả và kết thúc Chiến tranh lạnh. Phân biệt đối đầu hai siêu cường với chiến tranh khu vực; phân biệt Man-ta 1989 với Liên Xô tan rã 1991 và đánh giá tác động với Việt Nam.
Đang học