Bảng ghi quãng đường đã đi theo thời gian
Đồ thị quãng đường–thời gian cho biết quãng đường đã đi được ứng với từng thời gian kể từ lúc bắt đầu. Để vẽ, trước hết lập bảng hai đại lượng tương ứng.
Trong hành trình thẳng minh họa dưới đây, vật đi với tốc độ không đổi trong từng khoảng 0–2 s và 3–5 s; dừng trong khoảng 2–3 s:
| t (s) | s (m) |
|---:|---:|
|0|0|
|1|2|
|2|4|
|3|4|
|4|7|
|5|10|
s là tổng quãng đường kể từ lúc bắt đầu, không phải quãng đường mới đi trong riêng mỗi giây. Từ t = 2 s đến t = 3 s, s cùng bằng 4 m nên vật không đi thêm.
Vẽ trục, đặt điểm rồi nối theo dữ kiện

1. Vẽ hai trục vuông góc tại O. Trục ngang biểu diễn t (s), trục đứng biểu diễn s (m).
2. Chọn tỉ xích đều trên từng trục. Trong hình, các vạch ngang cách 1 s; các vạch đứng cách 2 m. Hai trục không cần dùng cùng một đại lượng hoặc cùng một tỉ xích.
3. Với mỗi hàng bảng, từ giá trị t trên trục ngang dóng lên, từ s trên trục đứng dóng sang; đặt điểm ở vị trí gặp nhau.
4. Nối các điểm theo thứ tự thời gian. Vì đề cho tốc độ không đổi trong mỗi khoảng, các đoạn biểu diễn ở đây là đoạn thẳng.
Ví dụ hàng t = 4 s, s = 7 m cho điểm nằm trên vạch t = 4, cao giữa vạch s = 6 và s = 8. Không đặt 7 vào trục thời gian hoặc nối theo thứ tự quãng đường tùy ý.
Bài luyện
Theo cách vẽ vừa học, hai trục cần ghi thế nào?
Đúng đại lượng và đơn vị ở từng trục.
Đã đảo vị trí hai đại lượng so với đồ thị quãng đường–thời gian trong bài.
Cần một trục thời gian và một trục quãng đường.
Đã gán đơn vị mét cho thời gian và giây cho quãng đường.
Lời giải
Trục ngang biểu diễn thời gian t theo giây; trục đứng biểu diễn quãng đường s theo mét. Cần ghi cả đại lượng và đơn vị. Đáp án A.
Bài luyện
Hàng t = 4 s, s = 7 m trong bảng được biểu diễn ở đâu?
Đã đảo thời gian và quãng đường.
Đặt đúng thời gian và tổng quãng đường của hàng đó.
Mỗi hàng có giá trị s riêng; tại 4 s đã đi tổng 7 m.
Đồ thị này ghi tổng quãng đường, không chỉ quãng đường mới đi trong giây cuối.
Lời giải
Từ 4 s trên trục ngang dóng lên; từ 7 m trên trục đứng dóng sang. Giao điểm ứng với hàng (4; 7); 7 m nằm giữa vạch 6 m và 8 m. Đáp án B.
Đường đồ thị không phải đường vật đi
Trong hình, O–A là đoạn nghiêng, A–B nằm ngang, B–C nghiêng hơn. Các đoạn mô tả quãng đường thay đổi theo thời gian, không mô tả xe đi lên dốc, đi ngang rồi đi lên dốc khác.
Với dữ kiện chỉ là vài điểm đo, không tự kết luận chuyển động giữa các điểm luôn giữ tốc độ không đổi. Ví dụ này đã nêu điều kiện đó nên có thể nối bằng các đoạn thẳng và đọc các giá trị ở giữa đoạn.
Bài luyện
Đường nghiêng trên đồ thị s–t của ví dụ cho biết điều gì?
Trục đứng là quãng đường, không phải độ cao mặt dốc.
Đồ thị biểu diễn quan hệ s–t, không vị trí trên bản đồ.
Đọc theo ý nghĩa hai trục: thời gian tăng thì quãng đường tăng.
Đứng yên ứng với đoạn nằm ngang vì s không tăng.
Lời giải
Đồ thị s–t biểu diễn tổng quãng đường theo thời gian. Đoạn nghiêng lên cho biết vật đi thêm quãng đường; không cho biết hình dạng đường đi trong không gian. Đáp án C.