Chuẩn bị mẫu hoặc hình đủ đặc điểm
Các đại diện được quan sát gồm rêu tường, dương xỉ hoặc cỏ bợ, thông và một cây Hạt kín như bí ngô. Có thể thay mẫu bằng ảnh rõ hoặc cây cùng nhóm phù hợp địa phương.
Mẫu, hình cần có các phần giúp phân biệt: túi bào tử của rêu, ổ túi bào tử của dương xỉ, nón và vị trí hạt thông, hoa và quả chứa hạt của cây Hạt kín. Một ảnh lá đơn lẻ có thể chưa đủ thông tin.
Chuẩn bị kính lúp; kính hiển vi, lam, lamen, nước và dụng cụ phù hợp nếu làm tiêu bản. Giáo viên hướng dẫn trước khi thao tác; người lớn phụ trách dao lam, cắt mẫu và bổ quả. Không tự dùng dao sắc hay hái cây ở nơi nguy hiểm để học.
Quan sát lần lượt bốn đại diện

| Đại diện | Những điểm cần tìm |
|---|---|
| Rêu | Dạng thân, lá, rễ giả; túi bào tử nếu mẫu có |
| Dương xỉ | Rễ thật, thân, lá; lá non cuộn; ổ túi bào tử thường thấy ở mặt dưới lá trưởng thành |
| Thông | Thân, lá; nón đực, nón cái trên mẫu hoặc hình; vị trí hạt không nằm trong quả |
| Bí ngô hoặc cây Hạt kín khác | Rễ, thân, lá; hoa, quả và hạt nằm trong quả |
Không gọi túi bào tử của rêu là quả chứa hạt. Các đốm ở mặt dưới lá dương xỉ cần được đối chiếu với hình ổ túi bào tử, không gọi ngay là sâu bệnh.
Bài luyện
Trên mẫu dương xỉ chuẩn, các cụm nhỏ ở mặt dưới lá đã được đối chiếu với hình ổ túi bào tử. Chúng liên quan đến điều gì?
Dương xỉ trong bài không tạo quả chứa hạt.
Dương xỉ không có hoa như cây Hạt kín.
Đây không phải rễ giả.
Ổ túi bào tử liên quan việc tạo bào tử sinh sản.
Lời giải
Dương xỉ có mạch nhưng không có hạt. Ổ túi bào tử ở lá liên quan sinh sản bằng bào tử. Đáp án D.
Tìm hiểu quan sát lát cắt thân rêu
Để xem cấu tạo nhỏ, giáo viên chuẩn bị hoặc hướng dẫn làm một lát cắt ngang thân rêu thật mỏng. Đặt lát cắt lên lam, thêm một giọt nước, đậy lamen rồi quan sát ở vật kính 10× trước, chuyển sang 40× khi cần.
Mục tiêu là đối chiếu cấu tạo với đặc điểm không có mạch dẫn của rêu. Ảnh mờ hoặc lát cắt quá dày không đủ để tự kết luận có hay không có một cấu trúc. Khi đó cần kiểm lại tiêu bản hoặc dùng tiêu bản, hình chuẩn.
Ví dụ: phân loại bí ngô
Hình cây cho thấy hoa; mặt cắt quả cho thấy hạt nằm trong quả. Kết hợp các dấu hiệu này với đặc điểm có mạch, xếp bí ngô vào nhóm Hạt kín.
Không giải thích bằng ‘quả bí có màu đẹp’ hay ‘cây sống trên đất’, vì những đặc điểm ấy không phân biệt được Hạt kín với các nhóm khác.
Bài luyện
Bằng chứng nào trong bài phù hợp để xếp bí ngô vào Hạt kín?
Kích thước không phải tiêu chí quyết định Hạt kín.
Có hoa và hạt được bao trong quả là các dấu hiệu phù hợp.
Nhiều nhóm sống trên đất; cần xét cấu tạo, sinh sản.
Đây là dấu hiệu của Hạt trần, không phải bí ngô.
Lời giải
Bí ngô có hoa, có quả chứa hạt. Hạt được bao trong quả là dấu hiệu phân biệt Hạt kín với Hạt trần. Đáp án B.
Ghi tên nhóm kèm lí do
Báo cáo gồm mẫu hoặc nguồn hình, dụng cụ, hình vẽ và nhóm phân loại. Mỗi kết luận cần một vài dấu hiệu phù hợp, chẳng hạn ‘thông: hạt không nằm trong quả’.
Nếu mẫu không có hoa, quả hoặc bào tử ở thời điểm quan sát, ghi rõ phần chưa thấy và đối chiếu thêm ảnh, tài liệu đúng mẫu. Phân biệt điều đã quan sát trực tiếp với điều biết từ tài liệu.
Bài luyện
Mẫu chỉ là một cành cây chưa có hoa, quả; các đặc điểm chưa đủ để phân loại chắc chắn. Cách xử lí nào đúng?
Cần thêm bằng chứng, không suy rộng từ mẫu còn thiếu bộ phận.
Một cành tại một thời điểm không cho thấy toàn bộ quá trình sống của cây.
Không tạo kết quả quan sát giả.
Không thấy hoa không chứng minh là rêu; còn nhiều đặc điểm khác.
Lời giải
Mẫu thiếu thông tin nên chưa đủ kết luận. Ghi giới hạn và bổ sung bằng chứng về cùng cây; không bịa bộ phận hay suy ra cây không bao giờ có hoa. Đáp án A.