“Hoặc” và “cả hai”
Hợp A∪B xảy ra khi **ít nhất một** trong A,B xảy ra, bao gồm cả trường hợp hai biến cố cùng xảy ra. Giao A∩B, cũng viết AB, xảy ra khi **cả hai** cùng xảy ra.
Hai biến cố xung khắc khi không thể cùng xảy ra, tức A∩B=∅. Chẳng hạn một lần gieo xúc xắc không thể vừa ra 1 vừa ra 6.
“Đúng một trong hai” chỉ lấy phần riêng của A và phần riêng của B, không lấy phần giao.
Liệt kê để phân biệt hợp và giao
Chọn đều một số từ 1 đến 10. Gọi A là “số chẵn”, B là “số chia hết cho 3”.
A={2,4,6,8,10}, B={3,6,9}. Giao là {6}; hợp là {2,3,4,6,8,9,10}.
Vậy P(A∩B)=1/10 và P(A∪B)=7/10. Hai biến cố không xung khắc vì cùng xảy ra khi chọn số 6.
Hiểu từ “hoặc”
A∪B xảy ra khi
Đó mới là một phần của hợp.
Đó mới là một phần của hợp.
Đây là biến cố đối của hợp.
Đúng: bao gồm cả trường hợp cả hai.
Lời giải
Hợp xảy ra khi A xảy ra, B xảy ra hoặc cả hai xảy ra.
Vì sao phải trừ phần giao?
Cộng P(A)+P(B) đã tính phần giao hai lần. Trừ một lần để mỗi phần chỉ được tính một lần:
$$P(A\cup B)=P(A)+P(B)-P(A\cap B).$$
Nếu A,B xung khắc thì phần giao bằng 0, công thức còn P(A∪B)=P(A)+P(B). Công thức tổng quát không đòi hỏi độc lập.
Có thể lập bảng bốn phần: chỉ A, cả hai, chỉ B, không có A lẫn B. Các phần này không trùng nhau và tổng xác suất bằng 1.
Từ hai tỉ lệ và phần chung
Trong một câu lạc bộ, 60% thành viên chơi cầu lông, 40% chơi bóng bàn, 25% chơi cả hai. Chọn đều một thành viên.
| Phần | Xác suất |
|---|---|
| Chỉ cầu lông | 0,60−0,25=0,35 |
| Cả hai | 0,25 |
| Chỉ bóng bàn | 0,40−0,25=0,15 |
| Không chơi môn nào trong hai môn | 1−0,75=0,25 |
Xác suất chơi ít nhất một môn là 0,60+0,40−0,25=0,75. Xác suất chơi đúng một môn là 0,35+0,15=0,50. Hai yêu cầu không có cùng kết quả.
Hai biến cố xung khắc
A,B xung khắc, P(A)=0,2, P(B)=0,3. Tính P(A∪B).
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Phép nhân dùng cho giao của các biến cố độc lập, không dùng để cộng hai biến cố xung khắc.
Phần phải trừ là xác suất giao; với hai biến cố xung khắc, phần giao bằng 0.
Phép tính tình cờ cho cùng số nhưng lập luận sai: phải cộng xác suất hai biến cố xung khắc.
Lời giải
Phần giao bằng 0 nên P(A∪B)=0,2+0,3=0,5.
Tìm phần giao
P(A)=0,5, P(B)=0,4, P(A∪B)=0,7. Tìm P(A∩B).
Khi cộng hai xác suất, phần giao bị đếm hai lần nên phải đối chiếu với xác suất hợp.
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Kết quả số trùng hợp nhưng công thức thiếu $P(B)$ nên không phải lập luận hợp lệ.
Đề không cho tính độc lập; phải dùng công thức cộng, dù kết quả số ở đây trùng nhau.
Lời giải
P(A∩B)=0,5+0,4−0,7=0,2.
Không xảy ra biến cố nào
Với dữ kiện câu trước, tính xác suất cả A và B đều không xảy ra.
Số 0,2 là xác suất giao; biến cố đối cần dùng ở đây là đối của hợp.
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Kết quả số trùng nhưng đề không cho độc lập; cần dùng $1-P(A\cup B)$.
Cách này trừ phần giao hai lần; dữ kiện hợp đã cho trực tiếp là 0,7.
Lời giải
Đó là biến cố đối của A∪B, nên xác suất 1−0,7=0,3.
Xung khắc chưa chắc đối nhau
Gieo xúc xắc. A là ra 1, B là ra 2. Hai biến cố xung khắc có phải luôn là hai biến cố đối không?
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Hai biến cố đối còn phải có hợp bằng toàn bộ không gian mẫu.
Bằng nhau về xác suất không làm hai biến cố trở thành đối nhau.
Một lần gieo không thể đồng thời ra 1 và 2; chúng xung khắc nhưng không đối.
Lời giải
Không. A và B không cùng xảy ra nhưng chưa bao hết Ω; vẫn có 3,4,5,6. Hai biến cố đối vừa xung khắc vừa có hợp bằng Ω.
Điều cần nhớ
Hợp là ít nhất một, giao là cả hai. Chỉ cộng hai xác suất khi đã biết phần giao bằng 0; nếu không, dùng công thức có trừ giao.
Đang học