Biết một kết quả có làm thay đổi khả năng kia?
Hai biến cố độc lập khi việc một biến cố xảy ra hay không xảy ra không làm thay đổi xác suất của biến cố kia. Khi đó:
$$P(A\cap B)=P(A)P(B).$$
Đẳng thức này cũng là điều kiện kiểm tra độc lập từ số liệu. Không suy ra độc lập chỉ vì hai sự việc mang tên khác nhau. Với mô hình đời sống, đề cần cho hoặc nêu giả thiết độc lập phù hợp.
Nếu A,B độc lập thì A và biến cố đối của B cũng độc lập; tương tự với hai biến cố đối.
Cả hai và đúng một
Hai người thực hiện riêng hai lượt ném, giả sử kết quả độc lập. Xác suất thành công của An là 0,6, của Bình là 0,8.
Cả hai thành công: 0,6·0,8=0,48.
Đúng một người thành công có hai trường hợp không trùng: An thành công, Bình không thành công, xác suất 0,6·0,2=0,12; hoặc An không thành công, Bình thành công, xác suất 0,4·0,8=0,32. Tổng 0,12+0,32=0,44.
Ít nhất một người thành công: 1−0,4·0,2=0,92. Không nhầm kết quả này với “đúng một”.
Nhân khi đã có độc lập
A,B độc lập, P(A)=0,4 và P(B)=0,7. P(A∩B) bằng
Phép cộng không tính giao; 1,1 còn vượt 1.
Không lấy hiệu hai xác suất.
Đúng: dùng công thức nhân.
Không có hai trường hợp để nhân thêm 2.
Lời giải
P(A∩B)=0,4·0,7=0,28.
Kiểm tra từ xác suất đã biết
Cho P(A)=0,5, P(B)=0,4 và P(A∩B)=0,1. Ta tính P(A)P(B)=0,2, khác 0,1, nên hai biến cố không độc lập.
Nếu hai biến cố xung khắc và cả hai xác suất đều dương, phần giao bằng 0 nhưng tích hai xác suất dương. Vì vậy chúng không độc lập. “Không thể cùng xảy ra” khác với “không ảnh hưởng đến xác suất của nhau”.
Có hoàn lại và không hoàn lại
Hộp có 3 viên đỏ, 2 viên xanh. Nếu rút một viên, trả lại và trộn đều rồi rút tiếp, với các lần rút ngẫu nhiên độc lập, xác suất đỏ ở cả hai lần là (3/5)²=9/25.
Nếu không hoàn lại, sau khi rút một viên đỏ thì hộp chỉ còn 2 đỏ trong 4 viên. Không được tiếp tục dùng 3/5 như cũ. Có thể đếm nhóm: xác suất cả hai đỏ là $C_3^2/C_5^2=3/10$.
Phần Xác suất có điều kiện sẽ viết sự thay đổi này thành công thức nhân tổng quát và sơ đồ cây.
Hai biến cố đối
A,B độc lập, P(A)=0,3, P(B)=0,5. Tính xác suất cả hai đều không xảy ra.
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Cách này bỏ qua trường hợp cả A và B cùng xảy ra.
Đây là xác suất cả A và B xảy ra; cần dùng xác suất của hai biến cố đối.
Cả hai không xảy ra là giao của hai biến cố đối, nên với độc lập phải nhân.
Lời giải
(1−0,3)(1−0,5)=0,7·0,5=0,35.
Ít nhất một
Với dữ kiện câu trước, tính P(A∪B).
Phần giao có xác suất 0,15 bị đếm hai lần và phải trừ đi.
Đây là xác suất giao khi độc lập, không phải xác suất hợp.
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Biến cố đối của hợp là cả hai không xảy ra, có xác suất 0,35 chứ không phải 0,15.
Lời giải
1−0,35=0,65; cũng bằng 0,3+0,5−0,15.
Cùng một xác suất có đủ không?
P(A)=P(B)=0,5 có đủ để kết luận độc lập không?
Tính độc lập phụ thuộc xác suất giao, không phụ thuộc việc hai xác suất riêng có bằng nhau hay không.
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Tổng hai xác suất bằng 1 không cho biết phần giao hoặc tính độc lập.
Hai biến cố có thể khác nhau dù có cùng xác suất; vẫn cần biết xác suất giao.
Lời giải
Không. Còn phải biết phần giao bằng 0,25 hay không. Chẳng hạn A=B với xác suất 0,5 thì giao có xác suất 0,5, không độc lập.
Ba lần thử độc lập
Một phép thử có xác suất thành công 0,8 mỗi lần. Ba lần thử độc lập với nhau. Tính xác suất thành công cả ba lần.
Xác suất không thể vượt 1; ba lần độc lập phải nhân, không cộng.
Không có công thức trừ 2 như vậy cho giao của ba biến cố độc lập.
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Đây là xác suất có ít nhất một lần thành công, không phải thành công cả ba lần.
Lời giải
0,8³=0,512. Giả thiết độc lập của các lần thử cho phép nhân ba xác suất.
Điều cần nhớ
Muốn lấy tích các xác suất riêng, phải có độc lập. Đúng một thì chia trường hợp; ít nhất một thường dùng biến cố đối. Rút không hoàn lại cần cập nhật dữ kiện hoặc đếm trực tiếp.
Đang học