Tri thức trở thành nguồn lực tạo giá trị
Tri thức là những hiểu biết được con người tích lũy, kiểm chứng và vận dụng. Nền kinh tế tri thức phát triển dựa ngày càng nhiều vào việc tạo ra, phổ biến và sử dụng tri thức để sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tạo của cải và nâng chất lượng cuộc sống.
Ví dụ minh họa: cùng một nguồn nông sản, hiểu biết về giống, bảo quản, chế biến và thị trường giúp giảm hao hụt, nâng chất lượng, giá trị sản phẩm. Tri thức gắn với đất, nước, nguyên liệu, máy móc và con người; không làm các nguồn lực vật chất tự mất vai trò.
Bài luyện
Ví dụ nào thể hiện rõ việc dùng tri thức để tạo giá trị?
Cần xét việc ứng dụng và kết quả, không chỉ thiết bị.
Tri thức không xóa nhu cầu vật chất.
Không thể hiện học hỏi và cải tiến từ hiểu biết.
Đúng. Hiểu biết được vận dụng vào một khâu thực tế.
Lời giải
Tri thức có tác dụng khi được vận dụng vào hoạt động cụ thể. Cải tiến bảo quản có cơ chế giảm hao hụt; số thiết bị hoặc lượng thông tin chưa tự chứng minh hiệu quả.
Tri thức và khoa học – công nghệ
Hai đặc điểm đầu là tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và sản xuất dựa ngày càng nhiều vào thành tựu khoa học – công nghệ. Kiến thức được đưa vào thiết kế, quy trình, phần mềm, cách tổ chức và quyết định sản xuất, tác động đến năng suất và chất lượng.
Không phải chỉ ngành sản xuất máy tính mới dùng tri thức. Nông nghiệp, chế biến, vận tải, giáo dục và nhiều ngành khác đều có thể đổi mới dựa trên nghiên cứu, công nghệ và kinh nghiệm được kiểm chứng.
Bài luyện
Cách hiểu nào phù hợp hai đặc điểm đầu?
Nhiều ngành khác cũng ứng dụng tri thức.
Cần tri thức phù hợp và ứng dụng có hiệu quả.
Đúng. Có thể thể hiện ở nhiều ngành.
Thiết kế và quy trình có thể chứa tri thức được vận dụng.
Lời giải
Tri thức có thể được thể hiện trong công nghệ, thiết kế và tổ chức. Cần xét ứng dụng cụ thể, không giới hạn vào một ngành hoặc coi mọi thông tin là tri thức đã kiểm chứng.
Lao động, tài sản trí tuệ và mạng lưới toàn cầu
Ba đặc điểm còn lại là ngày càng coi trọng lao động trí tuệ; quyền sở hữu trí tuệ trở nên quan trọng; sản xuất và trao đổi tri thức gắn với mạng lưới toàn cầu. Việc học, sáng tạo, phân tích và điều khiển công nghệ được chú trọng trong cơ cấu lao động.
Các kết quả sáng tạo có giá trị nên cần điều kiện khuyến khích tạo ra, sử dụng và phát triển chúng. Bài học nêu vai trò của quyền sở hữu trí tuệ; khi cần áp dụng một quy định cụ thể phải đối chiếu văn bản chính thức tương ứng.
Nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và dịch vụ có thể liên kết giữa nhiều doanh nghiệp, quốc gia trong chuỗi giá trị. Tuy vậy, năng lực tiếp nhận và mức tham gia của từng nơi khác nhau.
Bài luyện
Nhóm nội dung nào hoàn thiện đủ năm đặc điểm khi đã có vai trò tri thức và khoa học – công nghệ?
Không phù hợp đặc điểm liên kết toàn cầu.
Đúng. Đây là ba đặc điểm còn lại.
Đây không phải ba đặc điểm còn lại được học.
Đã bỏ vai trò lao động và tài sản trí tuệ.
Lời giải
Năm đặc điểm gồm tri thức là lực lượng sản xuất trực tiếp; dựa vào khoa học – công nghệ; coi trọng lao động trí tuệ; vai trò quyền sở hữu trí tuệ; tính toàn cầu.
Bài luyện
Từ đặc điểm liên kết toàn cầu, kết luận nào có căn cứ?
Đúng. Liên kết không đồng nghĩa mọi nơi có kết quả như nhau.
Khả năng và kết quả tham gia khác nhau.
Các khâu có thể được phân công và liên kết.
Năng lực con người vẫn cần để tham gia hiệu quả.
Lời giải
Mạng lưới toàn cầu tạo điều kiện trao đổi và phân công, còn kết quả phụ thuộc năng lực của chủ thể tham gia. Giáo dục, nghiên cứu và khả năng ứng dụng vẫn quan trọng.
Đang học