Dụng cụ và trình tự thực hành
Dùng bản đồ phân bố và sơ đồ kiến tạo kèm chú giải dưới đây. Trước hết đọc tên, thời điểm phát hành và đối tượng của từng hình. Tiếp đó tìm Thái Bình Dương, bờ tây châu Mỹ, rìa đông châu Á và khu vực Địa Trung Hải – Nam Á. So sánh nơi có nhiều kí hiệu động đất, núi lửa với phần giữa các mảng. Cuối cùng đối chiếu các dải tập trung ở hình thứ nhất với ranh giới mảng ở hình thứ hai để giải thích.
Kết quả cần có nhận xét về nơi tập trung, bằng chứng từ bản đồ và cách giải thích dựa vào chuyển động mảng. Không chỉ liệt kê tên quốc gia.
Bản đồ địa chất để quan sát không gian
Nguồn: USGS, Smithsonian Institution và U.S. Naval Research Laboratory, This Dynamic Planet (2006). Hình đầu là bản đồ phân bố các hiện tượng địa chất; hình thứ hai là sơ đồ mảng kiến tạo có chú giải riêng. Hình cuối là chú giải của bản đồ thứ nhất. Cả ba được trích từ cùng bản gốc.
Trên bản đồ thứ nhất, tam giác đỏ hoặc hồng biểu hiện núi lửa; chấm và vòng tròn đen hoặc xám biểu hiện động đất. Kí hiệu tím biểu hiện hố va chạm thiên thạch, không dùng để đếm động đất. Lưới kinh, vĩ tuyến dùng để định vị.
Ở sơ đồ thứ hai, đường đỏ liền chỉ ranh giới tách dãn; đường có răng cưa chỉ ranh giới hội tụ; đường ranh giới đen đơn chỉ ranh giới trượt ngang. Vùng hồng là đới ranh giới rộng. Chấm đỏ trong sơ đồ này là điểm nóng, không phải kí hiệu động đất. Cần đọc đúng chú giải của từng hình.
Mở từng hình lớn để quan sát kí hiệu và các dải tập trung. Trong chú giải động đất, kích thước kí hiệu liên quan độ lớn, sắc đậm nhạt liên quan độ sâu. Bài này nhận xét phân bố chung, không đọc độ lớn từng trận từ hình thu nhỏ. Dữ liệu được tổng hợp trước thời điểm phát hành, không phải bản tin hiện tại.
Bản đồ chia một số mảng chi tiết hơn sơ đồ bảy mảng lớn của SGK. Khi đối chiếu tên và ranh giới, cần xét mức độ khái quát của từng nguồn.
Bài luyện
Quan sát hai phía của Thái Bình Dương trên bản đồ phân bố (hình thứ nhất). Cặp khu vực nào có các dải kí hiệu động đất, núi lửa tập trung rõ?
Các khu vực này hướng ra Đại Tây Dương, không phải hai phía của Thái Bình Dương cần quan sát.
Đây là các khu vực hướng ra Ấn Độ Dương, khác cặp khu vực ở hai phía Thái Bình Dương.
Dải tập trung nổi bật quanh Thái Bình Dương không nằm ở phần giữa hai châu lục này.
Đúng. Nhiều kí hiệu tập trung dọc phía tây châu Mỹ và rìa đông châu Á quanh Thái Bình Dương.
Lời giải
Các kí hiệu tập trung thành dải quanh nhiều rìa Thái Bình Dương, trong đó có phía tây châu Mỹ và rìa đông châu Á. Đây là nhận xét về sự phân bố cần đối chiếu tiếp với ranh giới mảng.
Đối chiếu vành đai với vùng tiếp xúc mảng
Nhiều động đất và núi lửa phân bố gần vùng tiếp xúc mảng, nổi bật quanh Thái Bình Dương. Động đất gắn với sự biến dạng và dịch chuyển trên đứt gãy; núi lửa thường gặp ở vùng hút chìm hoặc tách dãn. Dải Địa Trung Hải – Nam Á thể hiện rõ sự tập trung động đất, nhưng kí hiệu núi lửa không xuất hiện đều dọc toàn dải.
Vẫn có động đất và núi lửa ở bên trong mảng; ranh giới thực tế cũng có thể là một vùng rộng. Vì vậy, không coi mọi kí hiệu đều nằm đúng trên một đường ranh giới. Bản đồ phân bố không cho biết chính xác thời gian của trận động đất tiếp theo.
Bài luyện
Kết luận nào phù hợp khi đối chiếu kí hiệu động đất, núi lửa với ranh giới mảng?
Bản đồ cho thấy nhiều dải tập trung gần vùng tiếp xúc, thay vì chủ yếu ở phần giữa các mảng.
Các ranh giới giữa đại dương cũng có nhiều kí hiệu; không chỉ xét những dải gần bờ.
Đúng. Nhận xét nêu quy luật phân bố chủ yếu mà vẫn giữ các trường hợp trong mảng.
Vùng tiếp xúc có chuyển động tương đối và biến dạng, không phải nơi các mảng ít chuyển động chỉ vì có nhiều kí hiệu.
Lời giải
Hoạt động kiến tạo làm nhiều động đất, núi lửa tập trung ở rìa mảng. Nhận xét cần dùng “thường”, vì còn các trường hợp trong mảng và giới hạn của bản đồ khái quát.
Liên hệ Việt Nam có mốc thời gian
Việt Nam đã ghi nhận động đất, chẳng hạn động đất Tuần Giáo năm 1983. Phun trào [Hòn Tro (Ile des Cendres)](https://volcano.si.edu/volcano.cfm?vn=275060) năm 1923 ngoài khơi Việt Nam là một ví dụ về hoạt động núi lửa được ghi nhận trong lịch sử. Đây là hai loại sự kiện khác nhau, cần xác định đúng địa điểm và thời gian khi liên hệ.
Khi tìm hiểu thêm, cần ghi tên sự kiện, thời gian và nguồn; phân biệt dấu tích hoặc vụ phun trào trong quá khứ với thông tin về một vụ phun trào đang diễn ra. Việc ở xa nhiều rìa mảng không có nghĩa một lãnh thổ chắc chắn không có động đất.
Bài luyện
Bản đồ phát hành năm 2006 cho thấy nhiều điểm động đất. Cách sử dụng nào đúng?
Năm xuất bản không phải một bảng thống kê riêng cho năm đó; bản đồ cũng không cung cấp tổng số trận của năm hiện tại.
Đúng. Phải giữ bối cảnh thời gian của dữ liệu.
Một bản đồ tổng hợp có giới hạn dữ liệu và độ chi tiết; ít kí hiệu không chứng minh hiện nay không có động đất.
Năm xuất bản khác khoảng thời gian tổng hợp dữ liệu; không thể gán mọi trận cho năm 2006.
Lời giải
Bản đồ có thời điểm phát hành và dữ liệu tổng hợp trong một giai đoạn. Nó phù hợp để học phân bố địa chất, không phản ánh danh sách hiện tượng đang diễn ra hôm nay.
Bài luyện
Một báo cáo chỉ viết “Việt Nam xa nhiều rìa mảng nên không bao giờ có động đất”. Cần sửa thế nào?
Đúng. Sự kiện Tuần Giáo năm 1983 đã được ghi nhận ở Việt Nam, bác bỏ kết luận “không bao giờ”.
Ít kí hiệu trên hình thu nhỏ không có nghĩa không có sự kiện; cần đối chiếu các ghi nhận thực tế.
Động đất và núi lửa là hai hiện tượng khác nhau; số núi lửa không thay cho bằng chứng động đất.
Trận động đất tại một quốc gia khác không phải bằng chứng trực tiếp về sự kiện xảy ra tại Việt Nam.
Lời giải
Động đất Tuần Giáo năm 1983 là một sự kiện đã được ghi nhận ở Việt Nam, đủ bác bỏ nhận xét “không bao giờ có động đất”. Việc ở xa nhiều rìa mảng không loại trừ hoạt động đứt gãy trong mảng; không suy ra không có động đất từ việc ít kí hiệu trên một bản đồ thu nhỏ.
Đang học