Sóng truyền đi không có nghĩa mọi nước đi xa như nhau
Sóng biển thể hiện sự dao động của nước; sóng thường gặp chủ yếu do gió tạo ra. Trong mô hình đơn giản, nước dao động trong khi dạng sóng và năng lượng truyền đi. Gió mạnh thường tạo sóng lớn hơn, còn trạng thái sóng cụ thể phụ thuộc điều kiện biển.
Sóng thần là dạng sóng dài đặc biệt thường gắn với biến động lớn như động đất làm dịch chuyển đáy biển. Không gọi mọi sóng cao do gió là sóng thần, cũng không dùng khái niệm ấy thay cho thủy triều.
Bài luyện
Phân biệt nào đúng trong các lựa chọn?
Thủy triều có cơ chế thiên thể khác với sóng gió.
Sóng cao có thể do gió; không suy ngay nguyên nhân động đất.
Đây là hai dạng vận động có cơ chế khác nhau.
Đúng. Cần phân biệt cơ chế hình thành.
Lời giải
Sóng gió và sóng thần khác cơ chế. Thủy triều lại là sự dâng, hạ có quy luật của mực biển, chủ yếu liên quan tác động Mặt Trăng, Mặt Trời.
Mực nước dâng hạ có quy luật
Thủy triều là hiện tượng mực nước biển dâng và hạ có quy luật hằng ngày. Nguyên nhân chính là tác động hấp dẫn của Mặt Trăng và Mặt Trời. Trong mô hình có xét lực li tâm, lực này gắn với chuyển động của hệ Trái Đất – Mặt Trăng quanh tâm khối chung của hai thiên thể. Hình dạng bờ biển và điều kiện địa phương làm chế độ triều khác nhau.
Có nơi thường có một lần nước dâng, một lần rút trong ngày, gọi là nhật triều; có nơi thường có hai lần dâng, hai lần rút, gọi là bán nhật triều. Số lần trong ngày khác với mức chênh lệch giữa nước lớn và nước ròng.
Triều cường có biên độ lớn hơn triều kém
Khi Mặt Trời, Trái Đất và Mặt Trăng gần thẳng hàng, tác động tạo triều phối hợp làm biên độ lớn: triều cường. Điều này gắn với các thời kì trăng mới và trăng tròn. Khi hướng Trái Đất – Mặt Trăng gần vuông góc với hướng Trái Đất – Mặt Trời, biên độ nhỏ hơn: triều kém, gần pha trăng bán nguyệt.
Hình minh họa quan hệ vị trí, không dùng để dự báo đúng giờ triều lớn tại một cảng. Điều kiện địa phương có thể làm thời điểm triều thực tế chậm so với mốc thiên văn.
Bài luyện
Khi ba thiên thể gần thẳng hàng, nhận định khái quát nào đúng?
Triều cường gắn với pha trăng mới hoặc trăng tròn.
Số lần dâng rút trong ngày còn phụ thuộc chế độ triều tại nơi đó.
Đúng. Tác động tạo triều của Mặt Trăng và Mặt Trời phối hợp.
Gần thẳng hàng làm các tác động tạo triều phối hợp, nên gắn với triều cường; triều kém gắn với hai hướng nhìn từ Trái Đất gần vuông góc.
Lời giải
Ba thiên thể gần thẳng hàng tạo điều kiện biên độ lớn, gọi là triều cường. Không từ đó suy ra mọi bờ biển có cùng số lần dâng rút hoặc cùng độ cao triều.
Bài luyện
Triều kém gắn với cấu hình nào trong mô hình?
Gió mạnh giải thích sóng gió, không phải nguyên nhân chính của triều kém.
Đúng. Cấu hình ấy gắn với biên độ nhỏ hơn.
Cấu hình thẳng hàng gắn với triều cường.
Đó là cấu hình gần trăng mới, gắn với triều cường; triều kém gắn với hai hướng từ Trái Đất gần vuông góc.
Lời giải
Triều kém gắn với vị trí hai hướng Trái Đất – Mặt Trăng và Trái Đất – Mặt Trời gần vuông góc, thường gần pha trăng bán nguyệt.
Bài luyện
Một nơi có hai lần nước dâng và hai lần rút trong một ngày. Dữ kiện này trực tiếp cho biết gì?
Đúng. Hai lần dâng rút là đặc điểm khái quát của bán nhật triều; tần suất này chưa cho biết biên độ lớn hay nhỏ.
Số lần trong ngày chưa đủ kết luận triều cường; cần xét mức chênh nước lớn–nước ròng và chu kì liên quan.
Hai lần dâng rút không đồng nghĩa triều kém; số lần trong ngày khác với biên độ triều.
Dữ kiện là hai lần dâng và hai lần rút, phù hợp bán nhật triều; nhật triều có một lần dâng và một lần rút.
Lời giải
Hai lần nước dâng và hai lần nước rút trong ngày là đặc điểm khái quát của bán nhật triều. Muốn biết triều cường hay triều kém cần xét biên độ và chu kì liên quan, không chỉ số lần dâng rút.
Đang học